Bệnh sán lá truyền qua thức ăn (Food Borne Trematodiases‐FBTs) có chu kỳ sinh học và phát triển như một bệnh lây truyền tự động vật sang người khá phức tạp và có liên quan chặt chẽ với điều kiện vệ sinh kém, vệ sinh thực phẩm kém và sự có mặt của ổ chứa động vật trong bối cảnh gần gũi với cộng đồng. Một tiếp cận Một sức khỏe “One Health Approach” phối hợp hoặc tích hợp các biện pháp can thiệp trong lĩnh vực nông nghiệp và thú y như liệu pháp thuốc chống ký sinh trùng trên gia súc và kiểm soát ốc
Bệnh sán lá truyền qua thức ăn (Food Borne Trematodiases‐FBTs) có chu kỳ sinh học và phát triển như một bệnh lây truyền tự động vật sang người khá phức tạp và có liên quan chặt chẽ với điều kiện vệ sinh kém, vệ sinh thực phẩm kém và sự có mặt của ổ chứa động vật trong bối cảnh gần gũi với cộng đồng. Một tiếp cận Một sức khỏe “One Health Approach” phối hợp hoặc tích hợp các biện pháp can thiệp trong lĩnh vực nông nghiệp và thú y như liệu pháp thuốc chống ký sinh trùng trên gia súc và kiểm soát ốc, cải thiện điều kiện vệ sinh và tiếp cận nguồn nước an toàn và truyền thông nâng cao về an toàn thực phẩm và vệ sinh như một biện pháp sống còn trong phòng chống nhiễm sán lá truyền qua thức ăn.
Tổ chức Y tế thế giới (TCYTTG đã làm việc chặt chẽ với các cơ quan đối tác như Tổ chức Sức khỏe Động vật Thế giới (World Organization for Animal Health_OIE) và Tổ chức Lương Nông thế giưới (Food and Agriculture Organization of the United Nations_FAO) để thúc đẩy phối hợp liên ngành. Các cuộc họp ba bên đã được tổ chức để thúc đẩy các hành động giữa các bộ phận và các hỗ trợ các quốc gia trong việc xây dựng năng lực để phòng chống hiệu quả các bệnh ký sinh trùng lây truyền qua đường thực phẩm.
Bệnh sán lá gan lớn ở người và động vật: Nguồn gốc và tiến triển trên toàn cầu
Bệnh SLGL là một bệnh ký sinh trùng lây truyền từ động vật và từ thực phẩm và nguồn nước (plant and waterborne zoonotic parasitic disease) do hai loài sán lá: (i) Fasciola hepatica ở châu Âu, châu Á, châu Phi, châu Mỹ và châu Đại Dương và (ii) F. gigantica hạn hữu trong phạm vi châu Phi và châu Á. Sán lá thuộc nhóm này nhiễm chủ yếu vào các động vật ăn cỏ như các động vật nhai lại, ngựa lai và lạc đà mà còn liên quan đến động vật có vú ăn tạp như con người và heovà đường lây truyền qua ốc nước ngọt.
Hai giai đoạn có thể khác biệt trong quá trình tiến hóa của sán lá. Gia đoạn tiền thuần hóa bao gồm nguồn gốc sán F. gigantica ở Đông Nam châu Phi, khắp vùng Miocene, nguồn gốc sán lá F. hepatica ở gần Trung Đông của châu Á. Con đường và chu kỳ của làn sóng lan rộng của cả hai loài sán vào 5 lục địa được xác định lại tên nền tảng cá kiến thức được biết gần đây về sự di chuyển theo con người của các vật chủ là vật nuôi. Sự tiến hóa gia tăng theo đặc điểm nhân chủng học của sán cho phép chúng ta gọi chúng là các nội ký sinh trùng chu sinh(“peridomestic endoparasites”).Do vậy, việc đi sâu nghiên cứu về các khía cạnh chuyên sâu của bệnh sẽ dẫn đến cập nhật thêm kiến thức và phát triển cac nghiên cứu trong tương lai.

Bệnh do sán lá gan lớn ở người và gia súc gây ra bởi các sán lá nội ký sinh trùng (endoparasitic trematodes) thuộc giống Fasciola. F. hepatica thường gây bệnh ở vùng ôn đới, ngược lại loài F. gigantica tìm thấy ở vùng nhiệt đới. Gần đây, loài sán lá lai giữa F. hepatica và F. gigantica đã được đề cập và mô tả trong nước (Lê Thanh Hòa và cs., 2008) và quốc tế(Periago và cs., 2008). Bệnh sán lá gan lớn là một bệnh ký sinh trùng lây truyền từ động vật sang người thật sự vì nó là một bệnh nỏi trội ở động vật mà có thể lây truyền sang người ở một giai đoạn đặc biệt của ký sinh trùng trong chu kỳ sinh học phát triển phức tạp. Có một số vật chủ xác định chính gồm cừu, gia súc và người nhưng sán lá nhiễm vào các động vật có vú khác như heo, chó, chuột, lạc đà alpacas, lạc đà không bướu llamas, và dê (Apt và cs., 1993; Chen và Mott 1990; Esteban và cs., 1998). Trong khi tỷ lệ nhiễm sán ở người có thể tương đối thấp so với trên động vật ở các vùng địa lý đặc biệt, chẳng hạn ở Bolivia, tỷ lệ nhiễm sán lá gan lớn thì quá cao ở quần thể người và nó góp phần vào việc lan rộng bệnh trên động vật (Esteban và cs., 1999; Mas‐Coma và cs., 1999).
Nghiên cứu khảo cổ học chỉ ra trứng sán Fasciola trên các xác chết cổ đại ở Ai Cập, ch thấy bệnh sán lá gan lớn là một bệnh ở người cổ (David và cs., 1997). Các ca sán lá gan lớn rải rác được báo cáo ở Ai Cập vào năm 1958 (Kuntz và cs., 1958). Trường hợp đầu tiên được tiến hành thông qua tổng hơp mở rộng về bệnh sán lá gan lớn ở người mở rộng là Chen và Mott (1990). Họ đã báo cáo 2.595 ca trên 40 quốc gia tại châu Âu, châu Mỹ, châu Á, châu Phi và Tây Thái Bình Dương từ 1970‐1990.
Một báo cáo tổng hợp giúp tăng kiến thức vê bệnh sán lá gan lớn ở người và thúc đẩy về các nghiên cứu về dịch tễ học và sau đó rất nhiều ấn bản trên y văn ra đời. Giờ đây, bệnh sán lá gan lớn ở người đã được TCYTTG công nhận bệnh sán lá gan lớn như một bệnh quan trọng ở người với ước tính 2.4 triệu người nhiễm hàng năm và 180 triệu người có nguy cơ mắc trên 61 quốc gia (Haseeb và cs., 2002). Một số ca tạo thành dịch đã xảy ra tại Pháp (Dauchy và cs., 2007), Ai Cập (Curtale và cs., 2007) và Iran (Rokni và cs., 2002).









