Chào mừng bạn đến với website Viện Sốt rét-KST-CT Quy Nhơn

  DANH MỤC

  Liên kết website

  Bản đồ

  Thống kế truy cập

Đang online: 9
Hôm nay: 0
Hôm qua: 2
Tuần này: 469
7 ngày trước: 474
Tháng này: 1002
30 ngày trước: 1018

Ưu tiên nghiên cứu về lĩnh vực ngoại ký sinh trùng trong bối cảnh biến đổi khí hậu toàn cầu

Bệnh do ngoại ký sinh trùng là các bệnh lý do sinh vật sống bám ở bên ngoài cơ thể vật chủ như da, lông, mang, vây hoặc vỏ trên động vật nói chung. Ngoại ký sinh trùng ở người là những sinh vật sống bám và hút máu ở bên ngoài cơ thể, bao gồm các loài phổ biến như chấy (rận), ghẻ (mạt ghẻ), bọ chét, ve và rận mu, chúng gây ra các bệnh lý về da, ngứa ngáy khó chịu và có thể truyền các bệnh nguy hiểm khác.

Từ lâu có lẽ nhóm bệnh nhiệt đới bị
lãng quên (Neglected Tropical Diseases‐NTDs) đã và đang bị lãng quên, thế nhưng
nếu tìm hiểu ra thì các tác nhân này góp phần và đóng góp một tỷ trọng đáng kể trong
các trường hợp nhiễm trùng và sốt không rõ nguyên nhân (Fever of Unknown Origins‐FUO),
hơn thế nữa là hầu hết các bệnh ngoại ký sinh không có thiết bị hay công cụ
cũng như các bộ sinh phẩm đủ độ nhạy và độ đặc hiệu để chẩn đoán và phát hiện,
nên số ca sốt không rõ nguyên nhân vẫn là vấn đề cần quan tâm. Bên cạnh đó,
bệnh do ngoại ký sinh trùng ảnh hưởng trên cả nhóm dân đi làm trong các rừng,
rẫy và khu vực ven hay bìa rừng và cả lực lượng quân đội khi đi hành quân hay làm
các nhiệm vụ giúp dân trong các chiến dịch, nên dễ phơi nhiễm các tác nhân gây
bệnh gồm cả virus, vi khuẩn, v.v.

Các
ưu tiên nghiên cứu về ngoại ký sinh trùng ở người (human ectoparasite) tập
trung chủ yếu vào tình trạng kháng thuốc điều trị, sự lây truyền mầm bệnh qua
vật trung gian và các phương pháp chẩn đoán không xâm lấn tiên tiến. Các lĩnh
vực trọng điểm nhắm đến các sinh vật như chấy, mò, mạt, ghẻ, bọ chét và ve.

1. Kháng thuốc và các phương pháp điều trị thay thế

  • Kháng hóa chất diệt côn trùng: Theo dõi các đột biến gen và cơ chế sinh hóa gây ra hiện tượng kháng thuốc/ hóa chất đối với các phương pháp điều trị hóa chất tiêu chuẩn như permethrin và các dẫn suất và malathion ở trên quần thể chấy và ghẻ;
  • Liệu pháp thay thế: Đánh giá các lựa chọn thuốc/ hóa chất điều trị toàn thân (như ivermectin đường uống) và liệu pháp thuốc kết hợp có ivermectine cho các khu vực hạn chế nguồn lực, nơi tình trạng nhiễm nhiều loại ký sinh trùng phổ biến;

2. Sự lây truyền mầm bệnh và dịch tễ học

  • Khả năng truyền bệnh của vật chủ trung gian: Phân tích các con đường phân tử và di truyền mà ngoại ký sinh trùng truyền các tác nhân vi khuẩn, virus và động vật nguyên sinh hay các loài đơn bào (ví dụ: các bệnh do ve và bọ chét truyền);
  • Tích hợp Sức khỏe toàn diện: Nghiên cứu sự giao thoa giữa các biến đổi môi trường, vật chủ trung gian là động vật và hành vi của con người để ảnh hưởng đến sự phân bố ngoại ký sinh trùng và các đợt bùng phát dịch bệnh tại địa phương.

3. Chẩn đoán và tương tác giữa vật chủ và ký sinh trùng

  • Các công cụ chẩn đoán không xâm lấn: Thúc đẩy việc sử dụng soi da xét nghiệm, soi da qua video và xét nghiệm sinh học phân tử (PCR) để phát hiện sớm và nhanh chóng các bệnh nhiễm trùng da mà không cần sinh thiết;
  • Cơ chế phòng vệ của con người: Nghiên cứu các đường dẫn truyền cảm giác trên da, động lực ngứa và hành vi “chải chuốt” của vật chủ để xác định các mục tiêu can thiệp mới.

4. Các tác nhân gây bệnh lây truyền qua ngoại ký sinh trùng
Bệnh do ngoại ký sinh trùng là các bệnh lý do sinh vật sống bám ở bên ngoài cơ thể vật chủ như da, lông, mang, vây hoặc vỏ trên động vật nói chung. Ngoại ký sinh trùng ở người là những sinh vật sống bám và hút máu ở bên ngoài cơ thể, bao gồm các loài phổ biến như chấy (rận), ghẻ (mạt ghẻ), bọ chét, ve và rận mu, chúng gây ra các bệnh lý về da, ngứa ngáy khó chịu và có thể truyền các bệnh nguy hiểm khác. Chúng gây tổn thương bề mặt, hút máu, giảm sức đề kháng và tạo cơ hội cho vi khuẩn, virus xâm nhập. Các hướng nghiên cứu hiện nay nhằm mục đích khám phá các khía cạnh quan trọng của mầm bệnh lây truyền qua trung gian ngoại ký sinh trùng trên da, tập trung vào khía cạnh dịch tễ học, đặc điểm di truyền và tương tác của chúng với vật chủ, hệ vi sinh vật của ngoại ký sinh trùng ngoài da và các yếu tố môi trường. Thông qua các bài trình bày nghiên cứu về tác động của các mầm bệnh này đến sức khỏe động vật và tiềm năng của các chiến lược kiểm soát sáng tạo. Các nghiên cứu này nhằm mục đích phân tích các con đường lây truyền mầm bệnh qua ngoại ký sinh trùng ngoài da, chẳng hạn như bọ chét, ve, bọ ve và chấy, xem xét hồ sơ di truyền của chúng và cách chúng tương tác với vật chủ và các yếu tố môi trường.
Nghiên cứu này tìm cách xác định và mô tả các mầm bệnh liên quan đến ký sinh trùng ngoài da, bao gồm các tác nhân vi khuẩn, virus và động vật nguyên sinh, hiểu rõ mô hình dịch tễ học của các mầm bệnh lây truyền qua ký sinh trùng ngoài da. Các yếu tố ảnh hưởng đến động lực lây truyền của các mầm bệnh này bao gồm “tính mẫn cảm của vật chủ và ảnh hưởng của điều kiện sinh thái đến sự lan rộng của bệnh”. Hơn nữa, nghiên cứu này dự định điều tra các phương pháp mới nổi trong quản lý và kiểm soát bệnh tật, tận dụng các kỹ thuật phân tử và phát sinh học tiên tiến hay cải tiến.
Ký sinh trùng ngoài da ở người là những sinh vật thuộc ngành chân đốt, sống trên hoặc đào hang vào bề mặt da. Chúng được phân loại thành hai nhóm chính: Côn trùng (động vật chân đốt sáu chân) và Nhện (động vật chân đốt tám chân), chúng gây kích ứng da và có thể là tác nhân truyền bệnh.
Ký sinh trùng ngoài da ở côn trùng (Bộ Hexapoda)

  • Chấy (Phthiraptera): Côn trùng không cánh, hút máu.
    ‐ Rận đầu (Pediculus humanus capitis): Sống và sinh sản trên da đầu;
    ‐ Rận cơ thể (Pediculus humanus corporis): Sống trong quần áo và di chuyển lên da để hút máu; là vật trung gian truyền bệnh sốt phát ban;
    ‐ Rận mu (Phthirus pubis): Thường được tìm thấy trong lông thô ở vùng mu, nách hoặc lông mày.
  • Bọ chét (Siphonaptera): Côn trùng nhảy, hút máu.
    ‐ Bọ chét người (Pulex irritans) và bọ chét Chigoe (Tunga penetrans): Tunga cái chui thẳng vào da bàn chân.
  • Côn trùng bộ Hemiptera:
    ‐ Rệp giường (Cimex lectularius/ Cimex hemipterus): Là loài côn trùng hoạt động về đêm, chúng chui ra ngoài để hút máu tạm thời.
  • Ruồi ký sinh (Bộ Diptera):
    ‐ Ruồi gây bệnh giun sán (Dermatobia hominis): Ấu trùng xâm nhập và phát triển bên trong mô da người.
    Ký sinh trùng ngoài da thuộc lớp Nhện (Arachnida)
  • Ve (Acari): Loài nhện nhỏ thường đào hang bên dưới lớp sừng của da.
  • Ve bọ ghẻ (Sarcoptes scabiei): Đào hang dưới da để đẻ trứng, gây ra bệnh ghẻ.
  • Ve (Ixodida): Là loài ký sinh trùng ngoại ký sinh hút máu tạm thời, bắt buộc, bám chặt vào da trong nhiều ngày.
  • Ve cứng (Ixodidae): Tác nhân truyền bệnh Lyme và viêm não do ve.
  • Ve mềm (Argasidae): Tác nhân truyền bệnh sốt tái phát.

Các nghiên cứu này mở ra hướng nghiên cứu tầm quan trọng của các tác nhân gây bệnh lây truyền qua KST ngoài da từ nhiều góc độ khác nhau. Bằng cách tích hợp dữ liệu dịch tễ học, hiểu biết về di truyền, tương tác hệ vi sinh vật và các chiến lược kiểm soát sáng tạo, hướng đến việc thúc đẩy sự hiểu biết toàn diện về các tác nhân gây bệnh này và cung cấp thông tin cho các phương pháp quản lý hiệu quả trong sức khỏe động vật. Để thu thập thêm thông tin chi tiết về sự phức tạp và các khía cạnh đa ngành của các bệnh lây truyền qua ký sinh trùng ngoài da, các hướng nghiên cứu mà qua tổng hợp cho thấy hiện nay các nhà khoa học tập trung:

  • Sự đa dạng của ký sinh trùng ngoài da và các tác nhân gây bệnh mà chúng mang theo (vi khuẩn, virus và đơn bào);
  • Các kỹ thuật phân tử để xác định và mô tả các tác nhân gây bệnh lây truyền qua ký sinh trùng ngoài da;
  • Mô hình phân bố và các yếu tố ảnh hưởng đến dịch tễ học của các bệnh này;
  • Các kỹ thuật di truyền để xác định tác nhân gây bệnh và phân tích tiến hóa;
  • Phản ứng miễn dịch của vật chủ và ảnh hưởng của ký sinh trùng ngoài da đến sự lây truyền bệnh;
  • Các chiến lược sáng tạo để kiểm soát bệnh, bao gồm phát triển vaccine và các phương pháp quản lý theo mô hình sinh thái, kể cả tiếp cận “Một Sức khỏe”;
  • Vai trò của hệ vi sinh vật liên quan đến ký sinh trùng ngoài da trong vòng đời và khả năng gây bệnh của các tác nhân gây bệnh lây truyền.

    TS.BS. Huỳnh Hồng Quang

    Viện Sốt rét‐KST‐CT Quy
    Nhơn


Tác giả: TS.BS. Huỳnh Hồng Quang
Chia sẻ:

Tin cùng chuyên mục

Một số khía cạnh trong xét nghiệm phân tìm ký sinh trùng (Phần 2 ‐ Hết)

|

Kết quả xét nghiệm ký sinh trùng có thể bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố từ giai đoạn chuẩn bị, lấy mẫu cho đến kỹ thuật tại phòng xét…

Một số khía cạnh trong xét nghiệm phân tìm ký sinh trùng (Phần 1)

|

Dung dịch F2AM là viết tắt của một dung dịch bao gồm nhiều thành phần Formalin, Fuchsin (hoặc Malachite Green), Alcohol và Methylcellulose (hay được gọi là F2AM hoặc đơn…

Nhiễm ký sinh trùng và ung thư: Báo cáo thực trạng và y học chứng cứ (Phần 5‐Hết)

|

Nhiễm ký sinh trùng có thể làm thay đổi đáng kể vi môi trường khối u bằng cách biến đổi kiểu hình và chức năng của các tế bào tủy,…

Nhiễm ký sinh trùng và ung thư: Báo cáo thực trạng và y học chứng cứ (Phần 4)

|

Ký sinh trùng cũng gây ảnh hưởng đến quá trình chuyển hóa của các tế bào miễn dịch, chẳng hạn như đại thực bào và tế bào lympho T xâm…

Nhiễm ký sinh trùng và ung thư: Báo cáo thực trạng và y học chứng cứ (Phần 3)

|

Bệnh do ký sinh trùng được công nhận là một yếu tố quan trọng góp phần vào sự phát triển của ung thư, đặc biệt là ở những vùng mà…

Nhiễm ký sinh trùng và ung thư: Báo cáo thực trạng và y học chứng cứ (Phần 2)

|

Những ký sinh trùng này đã tiến hóa các cơ chế tinh vi để thao túng các quá trình tế bào của vật chủ, dẫn đến sự tăng sinh tế…

Nhiễm ký sinh trùng và ung thư: Báo cáo thực trạng và y học chứng cứ (Phần 1)

|

Hiện nay, nhiều loại bệnh hoặc nhiễm ký sinh trùng nhiệt đới vẫn đang là vấn đề y tế công cộng nan giải trong lĩnh vực y học nhiệt đới.…

Cập nhật chẩn đoán phân biệt ấu trùng di chuyên dưới da

Cập nhật chẩn đoán phân biệt ấu trùng di chuyên dưới da

Ấu trùng di chuyển dưới da (Cutaneous Larva Migrans‐CLMs) là một dạng nhiễm trùng da do ký sinh trùng (parasitic skin infection) gây ra bởi các ấu trùng giun, sán,…

Hội chứng löffler và những điều liên quan đến nhiễm ký sinh trùng qua hệ hô hấp

Hội chứng löffler và những điều liên quan đến nhiễm ký sinh trùng qua hệ hô hấp

Hội chứng Löffler là một bệnh lý hô hấp liên quan đến tăng bạch cầu ái toan (BCAT) và có bóng trên X‐quang. Lần đầu tiên hội chứng này được…

(Tiếp theo và Hết)‐Phần 4. Nhiễm ký sinh trùng Anisakis spp. ở người từ nguồn thực phẩm thủy hải sản chưa được quan tâm: cần mô hình tích hợp y học biển‐ký sinh trùng

Tại cộng đồng châu Âu, các tình trạng liên quan đến phòng chống KST theo hướng dẫn Council Directive no. 91/493/EEC (EC, 1991a). Tất cả cá và sản phẩm từ…