Chào mừng bạn đến với website Viện Sốt rét-KST-CT Quy Nhơn

  DANH MỤC

  Liên kết website

  Bản đồ

  Thống kế truy cập

Đang online: 8
Hôm nay: 2
Hôm qua: 108
Tuần này: 587
7 ngày trước: 600
Tháng này: 1077
30 ngày trước: 1133

Làm sao muỗi truyền được bệnh sốt rét ?

Chúng ta biết rằng bệnh sốt rét do muỗi truyền nhưng làm thế nào để muỗi truyền được bệnh sốt rét ? Có phải tất cả các loài muỗi Anopheles đều có khả năng truyền bệnh sốt rét không ?

Chúng ta biết rằng bệnh sốt rét do muỗi truyền nhưng làm thế nào để muỗi truyền được bệnh sốt rét ? Có phải tất cả các loài muỗi Anopheles đều có khả năng truyền bệnh sốt rét không ?

Loài muỗi nào truyền bệnh sốt rét ?

Muỗi truyền bệnh sốt rét là loài muỗi Anopheles, trên thế giới có khoảng 420 loài nhưng trong đó có 70 loài là trung gian truyền bệnh sốt rét cho người trong điều kiện tự nhiên. Ở Việt Nam cho tới nay đã phát hiện được 59 loài Anopheles, trong đó có 15 loài được xác định là trung gian truyền bệnh chính, truyền bệnh phụ và nghi ngờ truyền bệnh. Loài muỗi Anopheles truyền bệnh sốt rét chủ yếu tại Việt Nam đã được Viện Sốt rét‐Ký sinh trùng‐Côn trùng xác định gồm An. minimus hoạt động ở vùng rừng núi trên toàn quốc, An. dirus hoạt động ở vùng rừng núi từ vĩ tuyến 20 trở vào phía Nam và An. sundaicus hoạt động ở vùng ven biển nước lợ Nam Bộ. Các loài muỗi trung gian truyền bệnh phụ và nghi ngờ là trung gian truyền bệnh sốt rét như An. aconitus, An. jeyporiensis, An. maculatus, An. subpictus, An. sinensis, An. vagus, An. indefinitus, An. campestris, An. culicifacies, An. interruptus, An. lesteri, An. nimpe … chưa xác định rõ được vai trò truyền bệnh cụ thể nhưng chúng cũng luôn luôn được cảnh giác.

Thế thì vai trò truyền bệnh của muỗi được xác định như thế nào ?

Muỗi Anopheles muốn thực hiện được vai trò truyền bệnh sốt rét phải hội đủ các điều kiện và yếu tố cần thiết. Chỉ có muỗi Anopheles cái mới có khả năng truyền bệnh sốt rét vì nó phải hút máu người hoặc động vật để thực hiện chức năng sinh sản, còn muỗi đực chỉ hút nhựa cây để sống. Muỗi phải có tập tính đốt máu người với tỷ lệ đốt người cao và có tuổi thọ đủ thời gian để ký sinh trùng sốt rét hoàn thành được giai đoạn phát triển trong cơ thể muỗi từ thể giao bào (gametocytes) đến thể thoa trùng (sporozoites) tại tuyến nước bọt. Khi muỗi đốt máu người, thoa trùng ở tuyến nước bọt muỗi xâm nhập theo vết đốt, tiếp tục phát triển qua các giai đoạn trong cơ thể người và gây bệnh sốt rét. Để ký sinh trùng sốt rét có thể phát triển được trong cơ thể muỗi, sự tương hợp di truyền giữa muỗi truyền bệnh với các loại ký sinh trùng sốt rét gây bệnh cũng là điều kiện cần có và diễn biến mật độ hoạt động của muỗi truyền bệnh có sự trùng hợp với diễn biến của bệnh sốt rét tại địa phương. Việc xác định vai trò truyền bệnh của loài muỗi truyền bệnh một cách chính xác nhất là phát hiện được thể thoa trùng (sporozoites) của ký sinh trùng sốt rét trong tuyến nước bọt của muỗi. Kỹ thuật thường thực hiện hiện nay là dùng kính lúp phóng đại mỗ tuyến nước bọt của muỗi để tìm thoa trùng, hoặc nếu có điều kiện sử dụng phương pháp Elisa (Enzyme‐linked immunosorbent assay) để phát hiện protein thoa trùng (circumsporozoite protein) trong cơ thể muỗi. Trong các vùng sốt rét lưu hành hoặc trong các vụ dịch sốt rét, việc xác định vai trò truyền bệnh của muỗi rất cần thiết để nhận định, đánh giá tình hình một cách cụ thể, rõ ràng, đồng thời có chỉ định can thiệp biện pháp phù hợp. Một số trường hợp không xác định được vai trò truyền bệnh của các loài muỗi chủ yếu thì cần xác định vai trò của các loài muỗi thứ yếu hoặc loài muỗi nghi ngờ có tỷ lệ và mật độ hoạt động cao để tìm ra thủ phạm có khả năng lây truyền bệnh tại chỗ và gây dịch.

Muỗi đốt máu truyền thoa trùng sang người để gây bệnh sốt rét mất bao lâu ?

Thời gian từ khi muỗi đốt máu truyền thoa trùng (sporozoites) tại tuyến nước bọt sang người để gây bệnh thể hiện triệu chứng trên lâm sàng với cơn sốt đầu tiên thường được gọi là thời kỳ ủ bệnh (incubation). Thời gian ủ bệnh dài hay ngắn tùy thuộc chủng loại ký sinh trùng sốt rét gây bệnh, trung bình từ 7‐21 ngày. Nếu bị nhiễm P.falciparum thì thời gian ủ bệnh ngắn từ 8‐12 ngày. Nếu bị nhiễm P. vivax, thời gian ủ bệnh từ 11‐21 ngày; có trường hợp ủ bệnh ngắn (2 tuần) nhưng cũng có trường hợp ủ bệnh dài (6‐12 tháng). Thời gian ủ bệnh còn phụ thuộc vào sức đề kháng của cơ thể. Trong thời kỳ ủ bệnh, bệnh nhân không có biểu hiện triệu chứng lâm sàng nào cả. Sau đó bệnh khởi phát với cơn sốt rét điển hình trải qua ba giai đoạn: rét run‐sốt nóng‐ra mồ hôi hoặc không điển hình tùy theo đối tượng bị nhiễm bệnh. Ở bệnh nhân nhiễm sốt rét lần đầu, bị sốt liên tục hoặc giao động trong 5‐7 ngày đầu rồi mới thành cơn. Ở trẻ em và người sống ở vùng sốt rét lưu hành đã bị mắc sốt rét có tính miễn dịch thì sẽ bị sốt không thành cơn, thường biểu hiện triệu chứng ớn lạnh, gai rét. Bệnh nhân sốt rét còn có triệu chứng khác như thiếu máu, lách to … Thời gian ủ bệnh giúp xác định hướng chẩn đoán bệnh khi khai thác các yếu tố dịch tễ ở bệnh nhân, đồng thời cũng là căn cứ để cấp thuốc tự điều trị cho các đối tượng cần thiết khi đi vào vùng sốt rét (khách du lịch, người mới vào vùng sốt rét trong vòng 6 tháng) hoặc ra khỏi khu vực được bảo vệ của vùng sốt rét (đi rừng, ngủ rẫy, người qua lại biên giới vùng sốt rét lưu hành) xa cơ sở y tế trên 10 ngày. Thời gian 10 ngày này tương ứng với thời gian ủ bệnh trung bình, nếu ngày đầu tiên vào vùng sốt rét hoặc ra khỏi khu vực được bảo vệ của vùng sốt rét bị nhiễm bệnh ngay thì sau thời gian ủ bệnh, bệnh sẽ khởi phát. Dùng thuốc tự điều trị mang theo, bệnh nhân sẽ tự chủ động xử lý điều trị khi bị mắc bệnh, không để sốt rét thể thông thường chuyển thành sốt rét thể ác tính gây hậu quả tử vong.

Tác giả: TTƯT.BS. Nguyễn Võ Hinh
Giám đốc Trung tâm PCSR‐KST‐CT Thừa Thiên Huế
Chia sẻ:

Tin cùng chuyên mục

Lập bản đồ nguy cơ sốt rét để định hướng hành động toàn cầu (Phần 3 ‐ Hết)

|

Sinh thái bệnh sốt rét thay đổi tùy thuộc vào loài muỗi, với mối quan hệ giữa môi trường và sự lây truyền dự kiến sẽ khác nhau giữa các…

Plasmodium cynomolgi ‐ Thận trọng với sự gia tăng loài ký sinh trùng sốt rét lây truyền từ khỉ sang người (Phần 1)

|

Sốt rét lây truyền từ động vật sang người (zoonotic malaria) hiện đã và đang trở thành một thách thức quan trọng đối với các nỗ lực loại trừ sốt…

Cập nhật sốt rét ở phụ nữ mang thai(Phần 3‐Hết)

|

Vaccine ngăn chặn bám dính nhau thai nhắm vào VAR2CSA là hướng đi tiềm năng nhất cho phụ nữ mang thai lần đầu. Hiện tại, các nghiên cứu về vaccine…

Cập nhật sốt rét ở phụ nữ mang thai (Phần 2)

|

Một số hậu quả đáng kể của bệnh sốt rét trong thai kỳ, làm nổi bật các tác động liên quan đến sức khỏe của cả mẹ và thai nhi/trẻ…

Cập nhật sốt rét ở phụ nữ mang thai (Phần 1)

|

Tình trạng sốt rét trong thai kỳ (Malaria in Pregnancy‐MiP) tiếp tục đứng đầu trong danh sách các mối đe dọa y tế công cộng nghiêm trọng nhất đối với…

Cập nhật Hướng dẫn giám sát, theo dõi và đánh giá chương trình sốt rét (Phần 3‐Hết)

|

Ấn phẩm “Malaria Surveillance, Monitoring and Evaluation: A Reference Manual (Second Edition)” của Tổ chức Y tế Thế giới là cột mốc quan trọng trong việc hoàn thiện khung hướng…

Hướng dẫn về phòng chống sốt rét trong tình huống khẩn cấp‐Cập nhật từ Tổ chức Y tế Thế giới (Phần 4‐Hết)

|

Trong nhiều tình huống khẩn cấp, hệ thống giám sát sốt rét thường bị gián đoạn hoặc hoàn toàn sụp đổ. Các bệnh viện và trạm y tế bị phá…

Hướng dẫn về phòng chống sốt rét trong tình huống khẩn cấp‐Cập nhật từ Tổ chức Y tế Thế giới‐Phần 3

|

Khi lồng ghép phòng chống sốt rét vào các nỗ lực ứng phó khẩn cấp, cần xem xét một số yếu tố để lựa chọn can thiệp phù hợp nhất…

Hướng dẫn về phòng chống sốt rét trong tình huống khẩn cấp‐Cập nhật từ Tổ chức Y tế Thế giới‐Phần 2

|

Đa dạng loài véc tơ: Hiện nay có hơn 70 loài Anopheles được ghi nhận có khả năng truyền sốt rét cho người. Ở châu Phi, An. gambiae và An.…

Hướng dẫn về phòng chống sốt rét trong tình huống khẩn cấp‐Cập nhật từ Tổ chức Y tế Thế giới‐Phần 1

|

Trong vòng 20 năm qua, nhân loại đã chứng kiến nhiều khủng hoảng nhân đạo mang tính chất chưa từng có tiền lệ. Sự kết hợp giữa xung đột vũ…