Chào mừng bạn đến với website Viện Sốt rét-KST-CT Quy Nhơn

  DANH MỤC

  Liên kết website

  Bản đồ

  Thống kế truy cập

Đang online: 2
Hôm nay: 0
Hôm qua: 23
Tuần này: 475
7 ngày trước: 485
Tháng này: 1014
30 ngày trước: 1052

Cập nhật sốt rét ở phụ nữ mang thai (Phần 1)

Tình trạng sốt rét trong thai kỳ (Malaria in Pregnancy‐MiP) tiếp tục đứng đầu trong danh sách các mối đe dọa y tế công cộng nghiêm trọng nhất đối với sức khỏe bà mẹ và trẻ em tại các vùng lưu hành dịch tễ.

Mặc dù đã có những nỗ lực toàn cầu trong việc kiểm soát vectơ và mở rộng các biện pháp phòng ngừa, gánh nặng bệnh tật vẫn duy trì ở mức cao một cách không thể chấp nhận được, đặc biệt là tại khu vực châu Phi cận Sahara. Các báo cáo mới nhất từ giai đoạn cuối năm 2025 và đầu năm 2026 chỉ ra rằng sự thay đổi trong động lực truyền bệnh, sự gia tăng của các đột biến kháng thuốc và những rào cản mang tính hệ thống trong việc tiếp cận dịch vụ chăm sóc tiền sản đang tạo ra những thách thức mới cho các chương trình quốc gia. Phụ nữ mang thai đại diện cho một nhóm dân số có nguy cơ đặc biệt do sự thay đổi sinh lý miễn dịch và sự cư trú đặc hiệu của ký sinh trùng tại nhau thai.

GÁNH NẶNG DỊCH TỄ HỌC VÀ TỶ LỆ HIỆN MẮC TOÀN CẦU

Dựa trên các phân tích gộp (meta‐analysis) và tổng quan hệ thống quy mô lớn, gánh nặng của MiP được xác định qua các con số cụ thể sau:

Xu hướng mắc bệnh sốt rét trong thai kỳ từ năm 2000 đến năm 2011, với hơn 98% dữ liệu đến từ khu vực châu Phi. Ví dụ, tỷ lệ mắc bệnh sốt rét ở phụ nữ mang thai ở Đông và Nam Phi là 29,5%, trong khi ở Tây và Trung Phi là 35,1%. Trong khi số ca mắc bệnh sốt rét ở phụ nữ mang thai giảm trên toàn cầu từ năm 2007 đến năm 2020, số ca mắc bệnh sốt rét ở phụ nữ mang thai ở châu Phi lại tăng 25,4%. Sự gia tăng này chủ yếu là do sự tăng trưởng dân số nhanh chóng ở các khu vực lưu hành bệnh sốt rét, dẫn đến sự gia tăng số ca mang thai. Nhìn chung, dữ liệu cho thấy sự suy giảm bệnh sốt rét ở phụ nữ mang thai theo thời gian, phản ánh tác động của các biện pháp phòng chống và chiến lược điều trị được cải thiện. Từ năm 2000 đến năm 2023, xu hướng toàn cầu cho thấy sự gia tăng tổng thể về tỷ lệ mắc và gánh nặng của bệnh sốt rét ở phụ nữ mang thai, nhưng lại giảm về ước tính số ca mắc sốt rét ở phụ nữ mang thai, do các biện pháp can thiệp như IPTp, ITNs và các phác đồ điều trị tốt hơn. Tuy nhiên, sự chênh lệch giữa các vùng vẫn còn tồn tại, và những thách thức như kháng thuốc và những lỗ hổng trong hệ thống y tế đã làm chậm tiến độ ở một số khu vực. Đại dịch COVID‐19 cũng gây ra những trở ngại, ảnh hưởng hơn nữa đến tiến độ ở các khu vực bị ảnh hưởng nặng nề nhất bởi bệnh sốt rét.

Kết quả dịch tễ học của các nghiên cứu này đánh giá tỷ lệ mắc bệnh sốt rét thai kỳ khác nhau ở các quốc gia, cho thấy sự khác biệt đáng kể giữa các vùng. Ở Châu Phi, nơi tỷ lệ lây truyền sốt rét cao nhất, tỷ lệ mắc sốt rét thai kỳ dao động từ 10% đến 56,3%. Tỷ lệ mắc sốt rét thai kỳ cao nhất được ghi nhận ở Tây Phi, chẳng hạn như ở Burkina Faso (54,5%) và Ghana (56,3%). Trong khi đó, tỷ lệ mắc sốt rét thai kỳ lên tới 37,8% (Sudan) được báo cáo ở Đông Phi. Tuy nhiên, tỷ lệ thấp hơn được ghi nhận ở Đông Nam Á và Tây Thái Bình Dương. Cả P.falciparumP.vivax đều phổ biến ở nhiều vùng của châu Phi và một số khu vực thuộc lưu vực sông Amazon, Ấn Độ và Đông Nam Á. Ngoài ra, P.ovale, P.malariaeP.knowlesi cũng đã được báo cáo ở châu Phi, Đông Nam Á và Tây Thái Bình Dương.

Theo báo cáo của WHO, năm 2024, tại 33 quốc gia có tỷ lệ lây truyền từ trung bình đến cao thuộc khu vực Châu Phi của WHO, ước tính có 36 triệu ca mang thai, trong đó ước tính 13 triệu (36%) bị nhiễm sốt rét. Các giá trị được ước tính bằng cách sử dụng mô hình mô tả mối quan hệ giữa kết quả, tỷ lệ mắc sốt rét trong dân số nói chung và mô hình sinh sản được phân tầng theo độ tuổi và số lần mang thai. Phân tích theo các khu vực khác nhau của châu Phi thì tỷ lệ phơi nhiễm với bệnh sốt rét trong thời kỳ mang thai năm 2024 cao nhất ở Tây Phi, nơi có khoảng 6 triệu (38%) trong số ước tính 15,8 triệu phụ nữ và trẻ em gái mang thai bị nhiễm sốt rét, và ở Trung Phi, nơi có khoảng 3,7 triệu (42%) trong số ước tính 8,8 triệu phụ nữ và trẻ em gái mang thai bị nhiễm sốt rét. Tỷ lệ nhiễm sốt rét ở phụ nữ và trẻ em gái mang thai thấp hơn ở tiểu vùng Đông và Nam Phi (30%) so với các tiểu vùng khác vào năm 2024.

Hình 1. Ước tính tỷ lệ phơi nhiễm sốt rét ở phụ nữ mang thai tại khu vực Châu Phi

Sốt rét nhau thai (Placental MalariaPM): Ước tính ảnh hưởng đến 17% thai kỳ toàn cầu theo chẩn đoán thông thường, nhưng tỷ lệ này tăng lên 23% khi sử dụng phương pháp mô học (tiêu chuẩn vàng). Tỷ lệ mắc sốt rét nhau thai có sự khác biệt đáng kể về mặt địa lý. Các quốc gia như Ghana, Burkina Faso và Sudan báo cáo tỷ lệ mắc cao, trong khi Ấn Độ và một số khu vực khác cho thấy tỷ lệ mắc không đáng kể hoặc không có. Tỷ lệ mắc sốt rét nhau thai cao hơn đã được báo cáo trong các nghiên cứu dịch tễ học về các bà mẹ nhiễm Plasmodium spp. ở Uganda (44,3%) và Burkina Faso (87%). Tuy nhiên, tỷ lệ mắc tương đối thấp ở các vùng khác ngoài châu Phi như Ấn Độ và Bolivia. Ở các vùng ngoài châu Phi, sốt rét nhau thai do P.vivax gây ra thường phổ biến hơn các loài khác. Tuy nhiên, tỷ lệ mắc sốt rét nhau thai cao ở châu Phi nhấn mạnh những thách thức đang diễn ra trong công tác phòng chống sốt rét, đặc biệt là ở những khu vực cả P.vivaxP.falciparum đều lưu hành. Cường độ thấp hơn của các phát hiện dưới kính hiển vi cho thấy nhiễm trùng dưới kính hiển vi có thể là nguồn lây truyền sốt rét chính.

Đồng nhiễm HIV: Tại khu vực Châu Phi cận Sahara, khoảng 1 triệu thai kỳ mỗi năm bị biến chứng bởi tình trạng đồng nhiễm sốt rét và HIV. Phụ nữ nhiễm HIV có nguy cơ mắc sốt rét nhau thai cao gấp hơn 2,5 lần (45% so với 17%) so với phụ nữ không nhiễm HIV.

Sốt rét bẩm sinh: Tỷ lệ mắc bệnh sốt rét bẩm sinh khác nhau đáng kể giữa các quốc gia. Ở nhiều quốc gia châu Phi, tỷ lệ mắc bệnh cao đã được ghi nhận; ví dụ, Niger ghi nhận tỷ lệ mắc P.falciparum là 26,5%. Uganda có tỷ lệ mắc bệnh là 6,1%, trong khi Sudan cho thấy tỷ lệ mắc bệnh rất khác nhau, từ 18,6% đến 56,8% được xác định thông qua phân tích PCR mẫu máu cuống rốn. Bên ngoài châu Phi, bệnh sốt rét bẩm sinh ít được báo cáo hơn nhưng đã được quan sát thấy ở Nam Mỹ, đặc biệt là ở Colombia. Đáng chú ý, cả P.falciparumP.vivax đều đã được xác định, với tỷ lệ mắc bệnh cho thấy sự khác biệt đáng kể tùy thuộc vào phương pháp chẩn đoán được sử dụng.

Hiệu quả phát hiện ký sinh trùng phụ thuộc lớn vào công nghệ chẩn đoán, dẫn đến sự khác biệt đáng kể trong các con số báo cáo. Hai phương pháp chẩn đoán chính: phản ứng chuỗi polymerase (PCR) có xu hướng phát hiện tỷ lệ mắc bệnh cao hơn so với phương pháp lam máu (TBS), như đã thấy ở các quốc gia như miền Nam Lào, nơi TBS báo cáo tỷ lệ 1,5%, so với 5,9% của PCR. Bài tổng quan nhấn mạnh tầm quan trọng của việc chẩn đoán sớm bằng kính hiển vi và điều trị kịp thời bệnh sốt rét trong thai kỳ để giảm nguy cơ sốt rét nhau thai và sốt rét bẩm sinh. Tỷ lệ hiện mắc theo phương pháp chẩn đoán:

Soi kính hiển vi: Tỷ lệ hiện mắc gộp khoảng 17%.

Xét nghiệm nhanh (RDT): Khoảng 19%.

Xét nghiệm phân tử (PCR): Mặc dù PCR phát hiện được mật độ ký sinh trùng thấp hơn, một số nghiên cứu hệ thống ghi nhận tỷ lệ này dao động mạnh tùy vùng, tại Tanzania là 8% nhưng tại Brazil có thể phát hiện cao gấp 17 lần so với soi kính (6,9% so với 0,4% đối với P. vivax).

Bảng 1. Tổng hợp tỷ lệ mắc sốt rét thai kỳ

Tác giả

Quốc gia

% (Prevalence of gestational malaria)

TLTK

P.falciparum

P.vivax

Phối hợp

Lam máu

PCR

Lam máu

PCR

Lam máu

PCR

Martínez‐Espinosa et al. (2004)

Brazil

3,5

NA

7,9

NA

0,3

NA

[30]

Bôtto‐Menezes et al.(2016)

Brazil

27,6

NA

16,8

NA

3,1

NA

[61]

Pincelli et al. (2018)

Brazil

1,6

15,7

4,9

13,1

0,1

1,1

[29]

Dombrowski et al. (2018)

Brazil

2,4

NA

5,7

NA

0,8

NA

[62]

Bardají et al. (2017)

Brazil

0

2

0,3

8,4

0,3

10

[58]

Mean

Brazil

7,02

8,8

7,1

10,7

0,9

Brutus et al. (2013)

Bolivia

NA

NA

7,9

NA

NA

NA

[57]

Agudelo et al. (2013)

Colombia

2,5

4,9

5,8

9,1

0,8

0

[63]

Agudelo‐Garc´ıa et al. (2017)

Colombia

8

18,9

0

4,4

0

0,7

[34]

Va´squez1 et al. (2018)

Colombia

3,7

4,8

0

0

0

0

[64]

Cardona‐Arias and Carmona‐Fonseca (2024)

Colombia

1,1

10,3

3,2

10,8

0,2

0,9

[6]

Bardají et al. (2017)

Colombia

0,6

3

0,6

6

2,1

15,6

[58]

Mean

Colombia

3,2

8,4

1,9

6,1

0,6

3,4

Bardají et al. (2017)

Papua New Guinea

6,7

11,6

1,7

13,9

8,3

23,7

[58]

Poespoprodjo et al. (2008)

Papua, Indonesia

9,6

NA

5,6

NA

0,6

NA

[28]

Bardají et al. (2017)

Guatemala

0

14

1,1

11,6

0,1

21

[58]

Bardají et al. (2017)

India

0,05

NA

1,2

1

0

NA

[58]

Hamer et al. (2009)

India

53,5

NA

37,2

NA

9,3

NA

[65]

Singh et al.(2022)

India

0,4

NA

0,8

NA

NA

NA

[36]

Mean

India

19,5

NA

13,6

4,6

NA

Khan et al. (2014)

Bangladesh

2,3

6

NA

NA

AN

NA

[66]

Barber et al. (2015)

Malaysia

NA

33

NA

9,8

0,9

[25]

Briand et al. (2016)

Southern Laos

1

5,9

0

5,4

0

0,5

[67]

Williams et al. (2016)

Burkina Faso

NA

54,2

NA

0

NA

NA

[68]

Williams et al. (2016)

Gambia

NA

10,8

NA

0

NA

0

[68]

Williams et al. (2016)

Ghana

NA

56,1

NA

0

NA

0

[68]

Williams et al. (2016)

Mali

NA

31,3

NA

0,3

NA

0,3

[68]

Doritchamou et al. (2018)

Benin

NA

39,2

NA

0

NA

0

[27]

Umemmuo et al.(2020)

Nigeria

12,9

NA

0

NA

0

NA

[39]

Unger et al. (2019)

Papua New Guinea

4,7

5,1

0,6

2.2

0,5

0

[69]

Omeret al.(2017)

Sudan

37,8

NA

0

NA

0

[41]

Nega et al. (2015)

South Ethiopia

7,0

NA

8,8

NA

2,3

NA

[42]

Gontie et al. (2020)

West Ethiopia

2,3

NA

0,6

NA

0

NA

[70]

Feleke et al. (2020)

North, Ethiopia

3,4

NA

2,3

NA

0

NA

[71]

Solomon et al. (2020)

Southern Ethiopia,

5,2

NA

10,0

NA

0

NA

[72]

Subussa et al. (2021)

Oromia, Ethiopia

1,6

NA

1,9

NA

0

NA

[46]

Limenih et al. (2021)

Northwest Ethiopia

3,7

NA

2,8

NA

0

NA

[73]

Almaw et al. (2022)

Ethiopia

12,2

NA

4,8

NA

3,8

NA

[48]

Gemechu et al. (2023)

West Ethiopia

10,9

NA

13,1

NA

0

NA

[74]

Trung bình

Ethiopia

5,7

NA

5.6

NA

0,8

NA

Sự phân bố và tác động của các loài Plasmodium spp. có sự khác biệt rõ rệt theo địa lý và đặc điểm sinh học. P. falciparum là loài nguy hiểm nhất và chiếm ưu thế tuyệt đối tại Châu Phi. Chiếm khoảng 90% các ca nhiễm sốt rét trong thai kỳ tại Châu Phi. Tại Tanzania, các ca nhiễm hỗn hợp chủ yếu là sự kết hợp của P. falciparum với các loài khác. Cơ chế đặc thù: Loài này duy nhất có khả năng biểu hiện protein VAR2CSA để bám dính và cư trú tại khoảng gian gai của nhau thai, gây ra tình trạng sốt rét nhau thai điển hình. Hệ quả gây ra hầu hết các ca sốt rét ác tính, tử vong mẹ và tình trạng trẻ nhẹ cân nghiêm trọng.

Hình 2. Phân bố loài KSTSR ở phụ nữ mang thai trên thế giới

Mặc dù ít phổ biến hơn ở Châu Phi, P. vivax là loài thống trị tại các khu vực khác. Chiếm 71,5%73% các ca sốt rét tại Châu Mỹ (Brazil, Colombia, Peru…) và khoảng 40%52,4% tại khu vực Đông Nam Á. Tác động trong thai kỳ: P. vivax không gây thâm nhiễm viêm nhau thai mạnh mẽ như P. falciparum, nhưng nghiên cứu tại Brazil đã chứng minh loài này vẫn có thể cư trú tại nhau thai và gây ra các ca sốt rét nhau thai đầu tiên được ghi nhận tại Mỹ Latinh. Hệ quả lâm sàng: Liên quan trực tiếp đến tình trạng thiếu máu mẹ mức độ trung bình đến nặng và giảm cân nặng sơ sinh. Đặc biệt, P. vivax có khả năng hình thành các thể ngủ trong gan, gây ra tình trạng tái phát sau khi đã điều trị các thể trong máu.

P. malariaeP. ovale: Thường xuất hiện dưới dạng nhiễm phối hợp với P. falciparum. Tại Châu Phi cận Sahara, tỷ lệ mắc đơn lẻ của P. malariae là 0,8% và P. ovale là 0,2%. Tuy nhiên, tại Tanzania, tỷ lệ nhiễm hỗn hợp P. falciparum với P. ovale đạt tới 22% và với P. malariae là 18%. P. knowlesi: Đây là loài sốt rét từ khỉ lây sang người, phổ biến nhất tại Malaysia (Sabah chiếm 62% thông báo năm 2013). Tuy nhiên, loài này tương đối hiếm gặp ở phụ nữ mang thai (chỉ chiếm 2,6% các ca thông báo sốt rét ở nữ giới độ tuổi sinh đẻ). Khi mắc phải, nó có thể gây thiếu máu trung bình và sinh non.

Còn nữa ‐> Tiếp theo Phần 2

ThS.BS. Nguyễn Công Trung Dũng, TS.BS. Huỳnh Hồng Quang

Viện Sốt rét‐KST‐CT Quy Nhơn

Tác giả: ThS.BS. Nguyễn Công Trung Dũng, TS.BS. Huỳnh Hồng Quang
Chia sẻ:

Tin cùng chuyên mục

Lập bản đồ nguy cơ sốt rét để định hướng hành động toàn cầu (Phần 3 ‐ Hết)

|

Sinh thái bệnh sốt rét thay đổi tùy thuộc vào loài muỗi, với mối quan hệ giữa môi trường và sự lây truyền dự kiến sẽ khác nhau giữa các…

Plasmodium cynomolgi ‐ Thận trọng với sự gia tăng loài ký sinh trùng sốt rét lây truyền từ khỉ sang người (Phần 1)

|

Sốt rét lây truyền từ động vật sang người (zoonotic malaria) hiện đã và đang trở thành một thách thức quan trọng đối với các nỗ lực loại trừ sốt…

Cập nhật sốt rét ở phụ nữ mang thai(Phần 3‐Hết)

|

Vaccine ngăn chặn bám dính nhau thai nhắm vào VAR2CSA là hướng đi tiềm năng nhất cho phụ nữ mang thai lần đầu. Hiện tại, các nghiên cứu về vaccine…

Cập nhật sốt rét ở phụ nữ mang thai (Phần 2)

|

Một số hậu quả đáng kể của bệnh sốt rét trong thai kỳ, làm nổi bật các tác động liên quan đến sức khỏe của cả mẹ và thai nhi/trẻ…

Cập nhật Hướng dẫn giám sát, theo dõi và đánh giá chương trình sốt rét (Phần 3‐Hết)

|

Ấn phẩm “Malaria Surveillance, Monitoring and Evaluation: A Reference Manual (Second Edition)” của Tổ chức Y tế Thế giới là cột mốc quan trọng trong việc hoàn thiện khung hướng…

Hướng dẫn về phòng chống sốt rét trong tình huống khẩn cấp‐Cập nhật từ Tổ chức Y tế Thế giới (Phần 4‐Hết)

|

Trong nhiều tình huống khẩn cấp, hệ thống giám sát sốt rét thường bị gián đoạn hoặc hoàn toàn sụp đổ. Các bệnh viện và trạm y tế bị phá…

Hướng dẫn về phòng chống sốt rét trong tình huống khẩn cấp‐Cập nhật từ Tổ chức Y tế Thế giới‐Phần 3

|

Khi lồng ghép phòng chống sốt rét vào các nỗ lực ứng phó khẩn cấp, cần xem xét một số yếu tố để lựa chọn can thiệp phù hợp nhất…

Hướng dẫn về phòng chống sốt rét trong tình huống khẩn cấp‐Cập nhật từ Tổ chức Y tế Thế giới‐Phần 2

|

Đa dạng loài véc tơ: Hiện nay có hơn 70 loài Anopheles được ghi nhận có khả năng truyền sốt rét cho người. Ở châu Phi, An. gambiae và An.…

Hướng dẫn về phòng chống sốt rét trong tình huống khẩn cấp‐Cập nhật từ Tổ chức Y tế Thế giới‐Phần 1

|

Trong vòng 20 năm qua, nhân loại đã chứng kiến nhiều khủng hoảng nhân đạo mang tính chất chưa từng có tiền lệ. Sự kết hợp giữa xung đột vũ…

Cập nhật Hướng dẫn giám sát, theo dõi và đánh giá chương trình sốt rét (Phần 2)

|

Phát triển hệ thống cảnh báo sớm, phát hiện, chuẩn bị và ứng phó với dịch sốt rét Khái niệm hệ thống cảnh báo sớm sốt rét (Malaria Early Warning System‐MEWS) đã…