Chào mừng bạn đến với website Viện Sốt rét-KST-CT Quy Nhơn

  DANH MỤC

  Liên kết website

  Bản đồ

  Thống kế truy cập

Đang online: 9
Hôm nay: 4
Hôm qua: 57
Tuần này: 221
7 ngày trước: 651
Tháng này: 1124
30 ngày trước: 1144

Hạn hán được xác định là chìa khóa làm trầm trọng dịch bệnh do virus Tây sông Nile

Ngày 24/2/2017. Theo một nghiên cứu của UC Santa Cruz đăng tải trong tạp chí Proceedings of the Royal Society B ngày 08/2/2017, hạn hán được xác định là chìa khóa làm trầm trọng dịch bệnh do virus Tây sông Nile (Drought identified as key to severity of West Nile virus epidemics) và cho biết sự lan truyền virus Tây sông Nile cao hơn trong những năm hạn hán nhưng sau đó miễn dịch mắc phải do những vụ dịch lớn giới hạn kích thước của các vụ dịch tiếp theo.

Ngày 24/2/2017. Theo một nghiên cứu của UC Santa Cruzđăng tải trong tạp chí Proceedings of the Royal Society B ngày 08/2/2017, hạn hán được xác định là chìa khóa làm trầm trọng dịch bệnh do virus Tây sông Nile (Drought identified as key to severity of West Nile virus epidemics) vàcho biết sự lan truyền virus Tây sông Nile cao hơn trong những năm hạn hán nhưng sau đó miễn dịch mắc phải do những vụ dịch lớn giới hạn kích thước của các vụ dịch tiếp theo.

Nghiên cứu kết luận hạn hán làm tăng đáng kể mức độ trầm trọng của dịch bệnh do virus Tây sông Nile ở Hoa Kỳ, mặc dù các quần thể bị ảnh hưởng bởi các vụ dịch lớn có được miễn dịch mắc phải giúpgiới hạn kích thước của các dịch bệnh tiếp theo.Các nhà nghiên cứu tham gia từ UC Santa Cruz, Đại học Stanford và Khoa Y, bang New Yorkđã phân tích 15 năm dữ liệu về tình hình nhiễm virus Tây sông Nile người trên khắp Hoa Kỳ thấy dịch bệnh lớn hơn nhiều trong những năm hạn hán và trong các khu vực mà không bị dịch bệnh lớn trong quá khứ. Sara Paull‐tác giả chủ trìlà nghiên cứu viên sau tiến sĩ (post‐doctoral researcher) tại Đại học California ở Santa Cruz đang làm việc tại Trung tâm quốc gia về nghiên cứu khí quyển cho biết:“Chúng tôi nhận thấy hạn hán là biến số thời tiết nổi bật tương quan với kích thước của dịch bệnh virus Tây sông Nile”. Virus Tây sông Nile xuất hiện ở Bắc Mỹ vào năm 1999 và gây ra dịch bệnh hàng năm vào mỗi mùa hè từ đó. Tuy nhiên, mức độ của các dịch bệnhđã thay đổi rất nhiều, trong một số năm chỉ có một vài trăm ca nghiêm trọng ở người trên toàn quốc, trong khi đó cứ mỗi năm trong3 năm (2002, 2003, 2012), khoảng 3.000 người bị viêm màng não gây tổn thương não hay viêm não và gần 300 người chết. Sự biến động ở mức độ bang thậm chí cao hơn với số ca bệnh hàng năm trung bình khác nhau lên 50 lần từ năm này sang năm khác. Nguyên nhân của những biến đổi to lớn này là không rõ và đã làm cho các nhà khoa học tại Trung tâm Kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh Hoa Kỳ (US CDC) dự đoán kích thước của dịch bệnh trong tương lai là rất khó hoặc không thể.

Trong nghiên cứu mới, Paull và Marm Kilpatrick, một phó giáo sư về sinh thái và sinh học tiến hóa tại Đại học California ở Santa Cruz phân tích mô hình trong số người nhiễm virus Tây sông Nile nặng mỗi năm ở mỗi tiểu bang và toàn quốc. Họ đã kiểm tra một số biến số về thời tiết bao gồm nhiệt độ mùa hè, lượng mưa, mức độ nghiêm trọng mùa đông và hạn hán. Họ cũng kiểm tra một giả thuyết từ lâu rằng căn bệnh này cho thấy một mô hình giống như sóng khi gây ra các vụ dịch lớn trong năm đầu tiên và vài trường hợp sau đó do một gia tăng của hệ miễn dịch trong các quần thể chim vật chủ chính của virus.Paull cho biết: “Chúng tôi tìm thấy bằng chứng mạnh mẽ trong một số khu vực lây lan virus Tây sông Nile thực sự giống như sóng với các vụ dịch lớn tiếp theo là số ca bệnh ít hơn nhưng phân tích của chúng tôi chỉ ra khả năng miễn dịch của người không phải là khả năng miễn dịch chim đóng vai trò lớn trong việc giảm số ca bệnh ở người bằng cách giảm số lượng người dễ bị bệnh”. Hợp tác với TS. Laura Kramer từ Khoa Y‐bang New York, phòng xét nghiệm của Kilpatrick đã phát triển một phương pháp rất cẩn thận trong việc lập bản đồ ảnh hưởng của nhiệt độ tới sinh học của cả virus và 3loài muỗi khác nhau mà chúng là những loài chính trong việc truyền virus, Kilpatrick cho rằngmối liên quan với hạn hán là điều bất ngờ:“Chúng tôi nghĩ dịch bệnh sẽ trùng với nhiệt độ lý tưởng nhất cho sự lan truyền, thay vào đó chúng tôi thấy mức độ nghiêm trọng của hạn hán là quan trọng hơn nhiều trên phương diện quốc gia và hạn hán dường như cũng là một động lực chính cho các bang riêng lẻ, điều chưa rõ làm thế nào hạn hán làm tăng sự lây truyền của virus. Dữ liệu từ bang Colorado chỉ ra rằng hạn hán làm tăng một số lượng nhỏ muỗi bị nhiễm virus Tây sông Nile nhưng không phải là làm gia tăng cả quần thể muỗi, hạn hán có thể ảnh hưởng đến sự lây truyền giữa muỗi và chim bằng cách chèn ép các loài chim hoặc làm thay đổi nơi chúng tụ tập.Với sự giúp đỡ của các nhà khí hậu học Dan Horton và Noah Diffenbaugh tại Đại học Stanford, Paull sử dụng các liên kết giữa hạn hán, khả năng miễn dịch và virus Tây sông Nile để dự báo​​tác động của biến đổi khí hậu cới dịch bệnh trong tương lai. Trong 3 thập kỷ tiếp theo, hạn hán được dự báo sẽ tăng ở nhiều khu vực trên khắp Hoa Kỳ do nhiệt độ tăng lên, mặc dù tăng lượng mưa ở một số khu vực tương tự.Mô hình dự báocho thấy hạn hán gia tăng có thể tăng gấp đôi kích thước của dịch bệnh virus Tây sông Nile trong tương lai nhưng các vụ dịch đó sẽ được giới hạn ở các khu vực một số lượng lớn các trường hợp, những phát hiện này cung cấp một công cụ giúp hướng dẫn các nỗ lực y tế công cộng cho các vùng có khả năng xảy ra các vụ dịch trong tương lai.

Tác giả: Ths.Bs. Lê Thạnh
(Biên dịch từ sciencedaily.com)
Chia sẻ:

Tin cùng chuyên mục

Lập bản đồ nguy cơ sốt rét để định hướng hành động toàn cầu (Phần 3 ‐ Hết)

|

Sinh thái bệnh sốt rét thay đổi tùy thuộc vào loài muỗi, với mối quan hệ giữa môi trường và sự lây truyền dự kiến sẽ khác nhau giữa các…

Plasmodium cynomolgi ‐ Thận trọng với sự gia tăng loài ký sinh trùng sốt rét lây truyền từ khỉ sang người (Phần 1)

|

Sốt rét lây truyền từ động vật sang người (zoonotic malaria) hiện đã và đang trở thành một thách thức quan trọng đối với các nỗ lực loại trừ sốt…

Cập nhật sốt rét ở phụ nữ mang thai(Phần 3‐Hết)

|

Vaccine ngăn chặn bám dính nhau thai nhắm vào VAR2CSA là hướng đi tiềm năng nhất cho phụ nữ mang thai lần đầu. Hiện tại, các nghiên cứu về vaccine…

Cập nhật sốt rét ở phụ nữ mang thai (Phần 2)

|

Một số hậu quả đáng kể của bệnh sốt rét trong thai kỳ, làm nổi bật các tác động liên quan đến sức khỏe của cả mẹ và thai nhi/trẻ…

Cập nhật sốt rét ở phụ nữ mang thai (Phần 1)

|

Tình trạng sốt rét trong thai kỳ (Malaria in Pregnancy‐MiP) tiếp tục đứng đầu trong danh sách các mối đe dọa y tế công cộng nghiêm trọng nhất đối với…

Cập nhật Hướng dẫn giám sát, theo dõi và đánh giá chương trình sốt rét (Phần 3‐Hết)

|

Ấn phẩm “Malaria Surveillance, Monitoring and Evaluation: A Reference Manual (Second Edition)” của Tổ chức Y tế Thế giới là cột mốc quan trọng trong việc hoàn thiện khung hướng…

Hướng dẫn về phòng chống sốt rét trong tình huống khẩn cấp‐Cập nhật từ Tổ chức Y tế Thế giới (Phần 4‐Hết)

|

Trong nhiều tình huống khẩn cấp, hệ thống giám sát sốt rét thường bị gián đoạn hoặc hoàn toàn sụp đổ. Các bệnh viện và trạm y tế bị phá…

Hướng dẫn về phòng chống sốt rét trong tình huống khẩn cấp‐Cập nhật từ Tổ chức Y tế Thế giới‐Phần 3

|

Khi lồng ghép phòng chống sốt rét vào các nỗ lực ứng phó khẩn cấp, cần xem xét một số yếu tố để lựa chọn can thiệp phù hợp nhất…

Hướng dẫn về phòng chống sốt rét trong tình huống khẩn cấp‐Cập nhật từ Tổ chức Y tế Thế giới‐Phần 2

|

Đa dạng loài véc tơ: Hiện nay có hơn 70 loài Anopheles được ghi nhận có khả năng truyền sốt rét cho người. Ở châu Phi, An. gambiae và An.…

Hướng dẫn về phòng chống sốt rét trong tình huống khẩn cấp‐Cập nhật từ Tổ chức Y tế Thế giới‐Phần 1

|

Trong vòng 20 năm qua, nhân loại đã chứng kiến nhiều khủng hoảng nhân đạo mang tính chất chưa từng có tiền lệ. Sự kết hợp giữa xung đột vũ…