Chào mừng bạn đến với website Viện Sốt rét-KST-CT Quy Nhơn

  DANH MỤC

  Liên kết website

  Bản đồ

  Thống kế truy cập

Đang online: 7
Hôm nay: 0
Hôm qua: 5
Tuần này: 140
7 ngày trước: 152
Tháng này: 627
30 ngày trước: 643

Ốc nước ngọt và bệnh nhiễm sán lá.

Ốc nước ngọt (Bithynia tentaculata) là vật chủ trung gian thường gắn liền với các bệnh sán nhiễm qua đường thức ăn gây bệnh ở gan, phổi, ruột người và động vật. Ước tính có khoảng 350 loài ốc có liên quan đến sức khoẻ của con người và động vật

Ốc nước ngọt (Bithynia tentaculata) là vật chủ trung gian thường gắn liền với các bệnh sán nhiễm qua đường thức ăn gây bệnh ở gan, phổi, ruột người và động vật. Ước tính có khoảng 350 loài ốc có liên quan đến sức khoẻ của con người và động vật. Ốc có thể được phân chia thành hai nhóm chính: ốc thủy sinh chỉ sống được dưới nước mà không thể sống được trên cạn và ống lưỡng cư thích nghi với việc sống cả trong nước và trên cạn. Ốc nước ngọt ở Việt Nam có số loài rất phong phú, trong đó có nhiều loài là vật chủ trung gian của các loài sán ký sinh ở người như ốc mút (Melanoides tuberculatus) là vật chủ trung gian của sán lá gan; các loài ốc Lymnaea swinhoei, Lymnaea viridis, ốc Gyranlus sinensis, Polypilis haemisphaerula là vật chủ trung gian của sán lá gan lớn. Loài ốc mút Melanoides tuberculatus còn là vật chủ trung gian của sán lá phổi. Ngoài ra ốc nhỏ thuộc giống Tricula aperta đã phát hiện là vật chủ trung gian của sán máng.

Sán lá truyền qua thức ăn ở người đều có hình lá và dẹt, kích thước dao động từ 1 mm đến 30 mm, có khi tới 75 mm. Trứng của sán trưởng thành ở người được đào thải ra ngoài. Khi tiếp xúc với nước, trứng nở ra ấu trùng xâm nhập vào vật chủ trung gian thích hợp là ốc hoặc trứng bị ốc ăn vào và nở trong cơ thể ốc. Mỗi loài sán phát triển trong một loại ốc đặc trưng. Ấu trùng đuôi phát triển ở ốc và bơi lội tự do trong nước, sau đó bám vào một vật chủ trung gian thứ hai hoặc những cây thủy sinh để tạo thành nang. Những vật chủ hoặc cây thủy sinh nầy thường là thức ăn của con người như rau cải xoong (French cresson), rau ngổ (Coriander), ngó sen (Lotus rootstock), cá hoặc loài giáp xác (Crustaceans). Nếu người ăn phải thực phẩm có nang sán, ấu trùng nang phát triển thành sán trưởng thành và gây bệnh.

Bệnh sán lá gan nhỏ là một bệnh ký sinh trùng phổ biến gây ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe con người. Trên thế giới, bệnh phân bố khá rộng rãi. Ở khu vực Đông Nam Á thường hay gặp hai loại sán lá gan nhỏ là Clonorchis sinensisOrpisthorchis viverrini. Năm 2003 ở Việt Nam, bệnh sán lá gan nhỏ bước đầu điều tra đã phát hiện ở 15/64 tỉnh, thành phố; trong đó Clonorchis sinensis phân bố ở các tỉnh phía Bắc và Orpisthorchis viverrini phân bố ở các tỉnh miền Trung. Bệnh sán lá phổi cũng đã lưu hành ở 8 tỉnh miền núi phía Bắc. Tại xã An Mỹ, huyện Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên có ổ bệnh sán lá gan nhỏ được xác định với vật chủ trung gian truyền bệnh là loài ốc mút Melanoides tuberculatus (Melania tuberculata).

Năm 2004‐2005, với sự giúp đỡ của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và Viện Sốt rét‐Ký sinh trùng‐Côn trùng; Thừa thiên‐Huế sẽ tiến hành điều tra xác định ổ bệnh các loài sán truyền qua thức ăn lưu hành tại địa phương để có kế hoạch phòng, chống. Nhằm chủ động ngăn ngừa nguy cơ nhiễm bệnh sán truyền qua thức ăn, cần truyền thông giáo dục sức khỏe cho cộng đồng các biện pháp vệ sinh an toàn thực phẩm đơn giản như không uống nước chưa được đun sôi hoặc nước không được lọc, không ăn gan sống, cá, thịt, rau chưa được nấu chín hoặc các loại rau sống chưa được rửa sạch đúng cách và đồng thời cũng cần tránh việc làm nhiễm bẩn môi trường với chất thải.

Tác giả: Bs. Nguyễn Võ Hinh. Giám đốc Trung tâm
Phòng chống Sốt rét‐Ký sinh trùng‐Côn trùng Thừa thiên‐Huế
Chia sẻ:

Tin cùng chuyên mục

Ưu tiên nghiên cứu về lĩnh vực ngoại ký sinh trùng trong bối cảnh biến đổi khí hậu toàn cầu

|

Bệnh do ngoại ký sinh trùng là các bệnh lý do sinh vật sống bám ở bên ngoài cơ thể vật chủ như da, lông, mang, vây hoặc vỏ trên…

Một số khía cạnh trong xét nghiệm phân tìm ký sinh trùng (Phần 2 ‐ Hết)

|

Kết quả xét nghiệm ký sinh trùng có thể bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố từ giai đoạn chuẩn bị, lấy mẫu cho đến kỹ thuật tại phòng xét…

Một số khía cạnh trong xét nghiệm phân tìm ký sinh trùng (Phần 1)

|

Dung dịch F2AM là viết tắt của một dung dịch bao gồm nhiều thành phần Formalin, Fuchsin (hoặc Malachite Green), Alcohol và Methylcellulose (hay được gọi là F2AM hoặc đơn…

Nhiễm ký sinh trùng và ung thư: Báo cáo thực trạng và y học chứng cứ (Phần 5‐Hết)

|

Nhiễm ký sinh trùng có thể làm thay đổi đáng kể vi môi trường khối u bằng cách biến đổi kiểu hình và chức năng của các tế bào tủy,…

Nhiễm ký sinh trùng và ung thư: Báo cáo thực trạng và y học chứng cứ (Phần 4)

|

Ký sinh trùng cũng gây ảnh hưởng đến quá trình chuyển hóa của các tế bào miễn dịch, chẳng hạn như đại thực bào và tế bào lympho T xâm…

Nhiễm ký sinh trùng và ung thư: Báo cáo thực trạng và y học chứng cứ (Phần 3)

|

Bệnh do ký sinh trùng được công nhận là một yếu tố quan trọng góp phần vào sự phát triển của ung thư, đặc biệt là ở những vùng mà…

Nhiễm ký sinh trùng và ung thư: Báo cáo thực trạng và y học chứng cứ (Phần 2)

|

Những ký sinh trùng này đã tiến hóa các cơ chế tinh vi để thao túng các quá trình tế bào của vật chủ, dẫn đến sự tăng sinh tế…

Nhiễm ký sinh trùng và ung thư: Báo cáo thực trạng và y học chứng cứ (Phần 1)

|

Hiện nay, nhiều loại bệnh hoặc nhiễm ký sinh trùng nhiệt đới vẫn đang là vấn đề y tế công cộng nan giải trong lĩnh vực y học nhiệt đới.…

Cập nhật chẩn đoán phân biệt ấu trùng di chuyên dưới da

Cập nhật chẩn đoán phân biệt ấu trùng di chuyên dưới da

Ấu trùng di chuyển dưới da (Cutaneous Larva Migrans‐CLMs) là một dạng nhiễm trùng da do ký sinh trùng (parasitic skin infection) gây ra bởi các ấu trùng giun, sán,…

Hội chứng löffler và những điều liên quan đến nhiễm ký sinh trùng qua hệ hô hấp

Hội chứng löffler và những điều liên quan đến nhiễm ký sinh trùng qua hệ hô hấp

Hội chứng Löffler là một bệnh lý hô hấp liên quan đến tăng bạch cầu ái toan (BCAT) và có bóng trên X‐quang. Lần đầu tiên hội chứng này được…