Chào mừng bạn đến với website Viện Sốt rét-KST-CT Quy Nhơn

  DANH MỤC

  Liên kết website

  Bản đồ

  Thống kế truy cập

Đang online: 3
Hôm nay: 1
Hôm qua: 108
Tuần này: 586
7 ngày trước: 600
Tháng này: 1076
30 ngày trước: 1133

Giá trị của các xét nghiệm chẩn đoán nhanh sốt rét

Để phát hiện và chẩn đoán bệnh sốt rét, ngoài kỹ thuật xét nghiệm truyền thống bằng phương pháp lấy lam máu, nhuộm giemsa và soi dưới kính hiển vi; các cơ sở y tế còn sử dụng những xét nghiệm chẩn đoán nhanh để xác định kết quả nhiễm bệnh. Xét nghiệm chẩn đoán nhanh hiện nay thường sử dụng dựa vào kết quả phát hiện kháng nguyên của ký sinh trùng sốt rét gọi là phương pháp chẩn đoán huyết thanh. Những xét nghiệm này chỉ có một giá trị nhất định.

Để phát hiện và chẩn đoán bệnh sốt rét, ngoài kỹ thuật xét nghiệm truyền thống bằng phương pháp lấy lam máu, nhuộm giemsa và soi dưới kính hiển vi; các cơ sở y tế còn sử dụng những xét nghiệm chẩn đoán nhanh để xác định kết quả nhiễm bệnh. Xét nghiệm chẩn đoán nhanh hiện nay thường sử dụng dựa vào kết quả phát hiện kháng nguyên của ký sinh trùng sốt rét gọi là phương pháp chẩn đoán huyết thanh. Những xét nghiệm này chỉ có một giá trị nhất định.

Chẩn đoán nhanh sốt rét bằng kháng nguyên

Theo các nhà khoa học, việc thử nghiệm chẩn đoán nhanh sốt rét (RDTs: rapid diagnostic tests) được xác định bằng nhiều phương pháp chẩn đoán huyết thanh khác nhau, trong đó phương pháp phát hiện các kháng nguyên của ký sinh trùng sốt rét thường được ứng dụng vì khá thuận tiện.

Kháng nguyên là protein giàu histidine‐2 PfHRP‐2 (histidine‐rich protein 2 of P. falciparum): Kháng nguyên này lưu thông trong hệ thống tuần hoàn máu của cơ thể được tạo ra bởi thể vô tính và thể giao bào của ký sinh trùng sốt rét trong quá trình phát triển. Kháng thể đơn dòng kháng PfHPR‐2 được cố định sẵn trên dãi hấp phụ. Dưới tác dụng của dung dịch đệm và kháng huyết thanh, phản ứng miễn dịch sẽ xảy ra và được ghi nhận kết quả. Hiện nay đã có một số các thử nghiệm chẩn đoán nhanh sốt rét được sử dụng như: Para‐sight F và Paracheck P.f do Ấn Độ sản xuất; ICT gồm ICT:P.f, ICT:P.f & P.v do Australia sản xuất; ASSURE do Singapore sản xuất, KAT do Anh quốc sản xuất… Các thử nghiệm này chỉ phát hiện được ký sinh trùng sốt rét P.falciparumP.vivax.

Kháng nguyên là men lactat dehydrogenase LDH: Được sử dụng trong thử nghiệm OptiMAL P.f & P.v do Thụy Sĩ sản xuất dựa trên cơ sở phản ứng kết hợp kháng nguyên ‐ kháng thể đặc hiệu. Trong máu người nhiễm ký sinh trùng sốt rét có kháng nguyên của ký sinh trùng sốt rét, khi tiếp xúc với que thử có gắn kháng thể đặc hiệu với kháng nguyên sẽ cho kết quả. Que thử được đóng trong bộ thử sử dụng thuận tiện và an toàn ở cộng đồng. Thử nghiệm này có ưu điểm là phát hiện được cả 4 chủng loại ký sinh trùng sốt rét P.falciparum, P.vivax, Pl.malariaeP.ovale gây bệnh ở người. Trên que thử có một vạch kháng thể đơn dòng kháng huyết thanh người làm vạch chứng, một vạch kháng thể đơn dòng đặc hiệu với ký sinh trùng sốt rét dương tính với P.falciparum, P.vivax, P.malariae, P.ovale và một vạch kháng thể đặc hiệu riêng đối với P.falciparum. Hiện nay tại nước ta, trong 4 chủng loại ký sinh trùng sốt rét gây bệnh ở người có 2 chủng loại ký sinh trùng sốt rét gây bệnh chủ yếu là P.falciparumP.vivax. Vì vậy các cơ sở y tế đã được cung cấp loại thử nghiệm chẩn đoán nhanh sốt rét SD BIOLINE Malaria Antigen P.f/P.v do Hàn Quốc và Đức sản xuất để phát hiện ký sinh trùng sốt rét thuộc 2 chủng loại P.falciparumP.vivax. Thử nghiệm này là một xét nghiệm chẩn đoán nhanh bằng phương pháp định tính phát hiện HRP‐II (histidine‐rich protein II) đặc hiệu với ký sinh trùng sốt rét P.falciparum và pLDH (plasmodium lactate dehydrogenase) đặc hiệu với ký sinh trùng sốt rét Plasmodium vivax trong máu người. Kết quả được đọc trên que thử nghiệm sau 15 đến 30 phút sau khi thực hiện kỹ thuật, lưu ý không nên đọc sau 30 phút vì nếu đọc quá muộn có thể ghi nhận sai kết quả.

Giá trị của các thử nghiệm chẩn đoán nhanh sốt rét

Các thử nghiệm chẩn đoán huyết thanh dùng để chẩn đoán nhanh sốt rét đã nêu ở trên chỉ có giá trị sử dụng giới hạn trong những trường hợp cần chẩn đoán nhanh sốt rét và khẩn cấp vì các thử nghiệm này chỉ cho kết quả dương tính nhiều ngày sau khi xuất hiện ký sinh trùng sốt rét ở trong máu. Vì vậy những thử nghiệm chẩn đoán nhanh không thể thay thế kỹ thuật xét nghiệm truyền thống lấy lam máu, nhuộm giemsa và soi tìm ký sinh trùng sốt rét dưới kính hiển vi. Tuy nhiên thử nghiệm chẩn đoán nhanh sốt rét có một giá trị không thể phủ nhận được trong nghiên cứu dịch tễ học. Thực tế cần phải lựa chọn thử nghiệm nào mang tính thực tiễn và nhạy cảm nhất với sự cung cấp nhiều thông tin có giá trị nhưng đồng thời cũng phải đánh giá được những bất lợi của thử nghiệm với những phản ứng dương tính giả. Hiện nay thử nghiệm chẩn đoán nhanh sốt rét được ứng dụng để phát hiện người bệnh mắc sốt rét ở những vùng sốt rét lưu hành quá xa xôi, việc đi lại khó khăn, dân cư sống thưa thớt, trạm y tế không có điểm kính hiển vi hoặc có điểm kính hiển vi nhưng không phát huy được năng lực hoạt động, thôn bản ở cách xa điểm kính hiển vi trên 1 giờ đi bộ; đồng thời thử nghiệm cũng được dùng để chẩn đoán nhanh khi cần thiết và phát hiện các trường hợp nghi ngờ mắc sốt rét ác tính nhưng không phát hiện thấy ký sinh trùng sốt rét trên lam máu xét nghiệm bằng phương pháp kỹ thuật truyền thống. Ngoài ra, thử nghiệm còn được sử dụng để chẩn đoán hồi cứu gần sau từ 2 đến 3 tuần kể từ khi bệnh nhân hết sốt. Các cơ sở y tế cần lưu ý chỉ nên dùng các xét nghiệm phát hiện kháng nguyên để chẩn đoán xác định trường hợp mắc sốt rét, không được sử dụng các xét nghiệm kháng thể để xác định.

Tác giả: TTƯT.BS. Nguyễn Võ Hinh
Chia sẻ:

Tin cùng chuyên mục

Plasmodium malariae: Loài ký sinh trùng sốt rét bị lãng quên với những thách thức mới (Phần 4 ‐ Hết)

Gánh nặng dịch tễ học thực sự và động lực truyền bệnh của P. malariae vẫn bị đánh giá thấp do chẩn đoán chưa đầy đủ, thiếu nhận thức lâm…

Plasmodium malariae: Loài ký sinh trùng sốt rét bị lãng quên với những thách thức mới (Phần 3)

Bất chấp việc bị lơ là do có các loài sốt rét có độc lực mạnh hơn, P. malariae vẫn đóng một vai trò quan trọng trong gánh nặng sốt…

Plasmodium malariae: Loài ký sinh trùng sốt rét bị lãng quên với những thách thức mới (Phần 2)

P. malariae thường cùng tồn tại với các loài Plasmodium khác tại các vùng lưu hành, đặc biệt là P. falciparum và do đó nó thường bị chẩn đoán nhầm…

Plasmodium malariae: Loài ký sinh trùng sốt rét bị lãng quên với những thách thức mới (Phần 1)

Plasmodium malariae là loài ký sinh trùng sốt rét (KSTSR) ít được nghiên cứu nhất trong số năm loài Plasmodium spp. gây bệnh sốt rét ở người, mặc dù có…

Đánh giá hệ thống và phân tích tổng hợp tỷ lệ mắc và tử vong toàn cầu của sốt rét ác tính do Plasmodium malariae (tiếp theo và hết)

Sau quá trình tìm kiếm các nghiên cứu có liên quan, tổng cộng 1835 nghiên cứu đã được thu thập. Trong số này, 236 nghiên cứu trùng lặp đã bị…

Cập nhật một số nghiên cứu về loài ký sinh trùng sốt rét Plasmodium vivax còn bí ẩn để tiến tới loại trừ sốt rét (Phần 3‐Hết)

Để thu được các trình tự P. vivax không có lỗi PCR gồm cả sự kết hợp sai do trùng hợp Taq gây ra và sự chuyển đổi khuôn mẫu,…

Cập nhật một số nghiên cứu về loài ký sinh trùng sốt rét Plasmodium vivax còn bí ẩn để tiến tới loại trừ sốt rét (Phần 2)

Phân tích phát sinh chủng loài cho thấy các chủng P. vivax ở người có nguồn gốc từ sự phân hóa của KST ở vượn, dự đoán các chủng ở…

Nhân một trường hợp tái xuất hiện Plasmodium malariae sau điều trị: tái phát gần hay tái nhiễm? (Tiếp theo và Hết)

Plasmodium malariae là loài KSTSR ở người bị lãng quên nhiều nhất trong các loài Plasmodiumspp. gây bệnh ở người, thường bị bỏ sót do gây ra mật độ KSTSR…

Nhân một trường hợp tái xuất hiện Plasmodium malariae sau điều trị: tái phát gần hay tái nhiễm? (còn nữa)

Plasmodium malariae là loài ký sinh trùng sốt rét (KSTSR) bị lãng quên nhiều nhất trong 5 loài KSTSR gây bệnh ở người và hiện nay các nhà khoa học…

Đánh giá hệ thống và phân tích tổng hợp tỷ lệ mắc và tử vong toàn cầu của sốt rét ác tính do Plasmodium malariae (còn nữa)

Các biến chứng nghiêm trọng ở bệnh nhân nhiễm Plasmodium malariae (P. malariae) là rất hiếm. Đây là nghiên cứu đánh giá hệ thống và phân tích tổng hợp đầu…