Chào mừng bạn đến với website Viện Sốt rét-KST-CT Quy Nhơn

  DANH MỤC

  Liên kết website

  Bản đồ

  Thống kế truy cập

Đang online: 9
Hôm nay: 7
Hôm qua: 108
Tuần này: 592
7 ngày trước: 601
Tháng này: 1082
30 ngày trước: 1094

Bệnh sán lá gan lớn giảm dần vào các tháng cuối năm 2006 và kế hoạch giải quyết tình hình nhiễm sán lá gan lớn năm 2007 tại khu vực miền trung‐Tây Nguyên

Bệnh sán lá gan lớn phổ biến ở các tỉnh miền Trung‐Tây Nguyên liên quan đến việc chăn nuôi gia súc (trâu, bò, dê…), cường độ nhiễm sán nhiều trong gia súc là nguồn dự trữ bệnh để lây nhiễm sang người ảnh hưởng tới sức khỏe cộng đồng. Vòng đời phức tạp của sán lá gan lớn cùng với sự chăn thả gia súc tự do và ý thức vệ sinh môi trường không tốt là điều kiện thuận lợi cho bệnh sán lá gan lớn lan tràn phát triển mạnh.

Bệnh sán lá gan lớn phổ biến ở các tỉnh miền Trung‐Tây Nguyên liên quan đến việc chăn nuôi gia súc (trâu, bò, dê…), cường độ nhiễm sán nhiều trong gia súc là nguồn dự trữ bệnh để lây nhiễm sang người ảnh hưởng tới sức khỏe cộng đồng. Vòng đời phức tạp của sán lá gan lớn cùng với sự chăn thả gia súc tự do và ý thức vệ sinh môi trường không tốt là điều kiện thuận lợi cho bệnh sán lá gan lớn lan tràn phát triển mạnh. Trước tình hình gia tăng và lan rộng bệnh sán lá gan lớn, đặc biệt là năm 2006 số ca phát hiện ở các tỉnh miền Trung‐Tây Nguyên chiếm khoảng 75% so với tổng số ca phát hiện ở cả nước đang là mối quan tâm của các nhà chuyên môn cũng như quản lý. Tuy nhiên trong các tháng cuối năm 2006, tình hình nhiễm bệnh sán lá gan lớn đang có xu hướng giảm dần qua biểu đồ diễn biến bệnh nhân nhiễm sán lá gan lớn tại Phòng khám của Viện Sốt rét‐KST‐CT Quy Nhơn:

Biểu đồ: Diễn biến bệnh nhân sán lá gan lớn phát hiện tại
Phòng khám chuyên khoa Viện Sốt rét KST‐CT Quy nhơn năm 2006.

Biểu đồ trên cho thấy tình hình nhiễm bệnh sán lá gan lớn ở khu vực miền Trung‐Tây Nguyên đến Phòng khám của Viện đã giảm rõ rệt, trước đây số bệnh nhân nhiễm mới phát hiện trong ngày khoảng 20‐30 ca hiện nay chỉ còn 10‐15 ca. Thuốc Egaten 250 mg vẫn còn đủ cơ số phục vụ điều trị cho bệnh nhân đến hết năm 2006. Ngoài ra các cơ sở điều trị khác như bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Định, bệnh viện đa khoa tỉnh Quảng Ngãi… số bệnh nhân cũng giảm hẳn và đủ nhu cầu thuốc điều trị cho bệnh nhân.

Để giải quyết tình hình bệnh sán lá gan lớn trong năm 2007 và các năm tiếp theo, Bộ Y tế đã chỉ đạo triển khai thực hiện các biện pháp phòng chống chủ yếu như sau:

1. Các Viện Sốt rét‐KST‐CT tiến hành điều tra tổng hợp số liệu nhiễm sán lá gan lớn trong cả nước để đánh giá đúng thực trạng tình hình và có cơ sở xây dựng kế hoạch phòng chống sán lá gan lớn (2007‐2010), chú trọng quản lý việc chăn thả gia súc và cải thiện môi trường ở các vùng có chăn nuôi gia súc không để phát tán mầm bệnh xuống ao hồ, tăng cường công tác truyền thông giáo dục cộng đồng không ăn sống các loại rau thủy sinh để hạn chế khả năng nhiễm bệnh.

Xét nghiệm chẩn đoán Bệnh Sán lá gan
lớn tại Labo

2. Bộ Y tế chính thức ban hành Quyết định số 3420/QĐ‐BYT ngày 13/9/2006 về Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị bệnh sán lá gan lớn ở người và Công văn số 9631/BYT‐ĐTr ngày 18/12/2006 về tập huấn chẩn đoán và điều trị bệnh sán lá gan lớn trong cả nước cho đối tượng là cán bộ làm công tác khám, chẩn đoán và điều trị bệnh sán lá tại địa phương:

‐ Khu vực phía Bắc giao cho Viện Sốt rét‐KST‐CT Trung ương làm đầu mối tổ chức 1 lớp tập huấn cho các tỉnh/thành phố gồm Thái Nguyên, Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Bắc Giang, Bắc Ninh, Hà Nội, Hà Tây, Hải dương, Hà Nam, Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh.

‐ Khu vực miền Trung‐Tây Nguyên giao cho Viện Sốt rét‐KST‐CT Quy Nhơn làm đầu mối tổ chức 3 lớp (2 lớp tuyến tỉnh, 1 lớp tuyến huyện) các tỉnh gồm Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận, Gia Lai, Kon Tum, Đăk Lăk, Đăk Nông, Bà Rịa‐Vũng tàu.

‐ Khu vực phía Nam giao cho bệnh viện Bệnh nhiệt đới TP. Hồ Chí Minh làm đầu mối tổ chức tập huấn cho các tỉnh/thành phố gồm TP. Hồ Chí Minh, Lâm Đồng, Đồng Nai, Hậu Giang.

3. Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã nhập về 10.000 viên Triclabendazole (Egaten 250 mg%) đảm bảo cung cấp cho cả nước, sang tháng 1/2007 Bộ Y tế giao cho Vụ Điều trị‐Bộ Y tế chịu trách nhiệm phân bổ số thuốc trên tới các tuyến bệnh viện tỉnh và huyện ngay sau khi tập huấn để kịp thời điều trị cho các ca nhiễm bệnh sán lá gan lớn được phát hiện tại cơ sở.

Ngoài kế hoạch giải quyết bệnh sán lá gan lớn theo chỉ đạo của Bộ Y tế, Viện Sốt rét‐KST‐CT Quy Nhơn còn xây dựng dự án truyền thông giáo dục và phòng chống sán lá gan lớn tại cộng đồng cho các tỉnh có tỷ lệ nhiễm bệnh cao như Bình Định, Phú Yên, Quảng Ngãi, Gia lai… thông qua nguồn tài trợ của WHO và một số tổ chức phi chính phủ.

Mặc dù bệnh sán lá gan không còn gia tăng ồ ạt như các tháng trong năm 2006, nhưng để giảm tỷ lệ bệnh một cách vững chắc cần có một chương trình phòng chống bệnh sán lá gan lớn tổng hợp đồng thời với việc nâng cao nhận thức của người dân trong việc bảo vệ môi trường cũng như vệ sinh ăn uống.

Tác giả: TS. Triệu Nguyên Trung
Chia sẻ:

Tin cùng chuyên mục

Ưu tiên nghiên cứu về lĩnh vực ngoại ký sinh trùng trong bối cảnh biến đổi khí hậu toàn cầu

|

Bệnh do ngoại ký sinh trùng là các bệnh lý do sinh vật sống bám ở bên ngoài cơ thể vật chủ như da, lông, mang, vây hoặc vỏ trên…

Một số khía cạnh trong xét nghiệm phân tìm ký sinh trùng (Phần 2 ‐ Hết)

|

Kết quả xét nghiệm ký sinh trùng có thể bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố từ giai đoạn chuẩn bị, lấy mẫu cho đến kỹ thuật tại phòng xét…

Một số khía cạnh trong xét nghiệm phân tìm ký sinh trùng (Phần 1)

|

Dung dịch F2AM là viết tắt của một dung dịch bao gồm nhiều thành phần Formalin, Fuchsin (hoặc Malachite Green), Alcohol và Methylcellulose (hay được gọi là F2AM hoặc đơn…

Nhiễm ký sinh trùng và ung thư: Báo cáo thực trạng và y học chứng cứ (Phần 5‐Hết)

|

Nhiễm ký sinh trùng có thể làm thay đổi đáng kể vi môi trường khối u bằng cách biến đổi kiểu hình và chức năng của các tế bào tủy,…

Nhiễm ký sinh trùng và ung thư: Báo cáo thực trạng và y học chứng cứ (Phần 4)

|

Ký sinh trùng cũng gây ảnh hưởng đến quá trình chuyển hóa của các tế bào miễn dịch, chẳng hạn như đại thực bào và tế bào lympho T xâm…

Nhiễm ký sinh trùng và ung thư: Báo cáo thực trạng và y học chứng cứ (Phần 3)

|

Bệnh do ký sinh trùng được công nhận là một yếu tố quan trọng góp phần vào sự phát triển của ung thư, đặc biệt là ở những vùng mà…

Nhiễm ký sinh trùng và ung thư: Báo cáo thực trạng và y học chứng cứ (Phần 2)

|

Những ký sinh trùng này đã tiến hóa các cơ chế tinh vi để thao túng các quá trình tế bào của vật chủ, dẫn đến sự tăng sinh tế…

Nhiễm ký sinh trùng và ung thư: Báo cáo thực trạng và y học chứng cứ (Phần 1)

|

Hiện nay, nhiều loại bệnh hoặc nhiễm ký sinh trùng nhiệt đới vẫn đang là vấn đề y tế công cộng nan giải trong lĩnh vực y học nhiệt đới.…

Cập nhật chẩn đoán phân biệt ấu trùng di chuyên dưới da

Cập nhật chẩn đoán phân biệt ấu trùng di chuyên dưới da

Ấu trùng di chuyển dưới da (Cutaneous Larva Migrans‐CLMs) là một dạng nhiễm trùng da do ký sinh trùng (parasitic skin infection) gây ra bởi các ấu trùng giun, sán,…

Hội chứng löffler và những điều liên quan đến nhiễm ký sinh trùng qua hệ hô hấp

Hội chứng löffler và những điều liên quan đến nhiễm ký sinh trùng qua hệ hô hấp

Hội chứng Löffler là một bệnh lý hô hấp liên quan đến tăng bạch cầu ái toan (BCAT) và có bóng trên X‐quang. Lần đầu tiên hội chứng này được…