Chào mừng bạn đến với website Viện Sốt rét-KST-CT Quy Nhơn

  DANH MỤC

  Liên kết website

  Bản đồ

  Thống kế truy cập

Đang online: 4
Hôm nay: 6
Hôm qua: 6
Tuần này: 52
7 ngày trước: 152
Tháng này: 630
30 ngày trước: 639

(Tiếp theo và Hết)‐Phần 4. Nhiễm ký sinh trùng Anisakis spp. ở người từ nguồn thực phẩm thủy hải sản chưa được quan tâm: cần mô hình tích hợp y học biển‐ký sinh trùng

Tại cộng đồng châu Âu, các tình trạng liên quan đến phòng chống KST theo hướng dẫn Council Directive no. 91/493/EEC (EC, 1991a). Tất cả cá và sản phẩm từ cá phải được giám sát kiểm tra trong suốt quá trình xử lý để mục đích phát hiện và loại bỏ bất kỳ KST nào có thể nhìn thấy. Ngoài ra, tất cả cá có thể được ăn sống hoặc hầu hết cá sống phải được đông lạnh xử lý (‐200C trong ít nhất 24 giờ đối với các bộ phận của cá).

10. Biện pháp phòng chống nhiễm ký sinh trùng Anisakis spp.

Tại cộng đồng châu Âu, các tình trạng liên quan đến phòng chống KST theo hướng dẫn Council Directive no. 91/493/EEC (EC, 1991a). Tất cả cá và sản phẩm từ cá phải được giám sát kiểm tra trong suốt quá trình xử lý để mục đích phát hiện và loại bỏ bất kỳ KST nào có thể nhìn thấy. Ngoài ra, tất cả cá có thể được ăn sống hoặc hầu hết cá sống phải được đông lạnh xử lý (‐200C trong ít nhất 24 giờ đối với các bộ phận của cá). Điều này cũng ứng dụng đối với các sản phẩm của cá cần đun nóng (hun khói) ở mức nhiệt độ < 60°C. Đối với các cá muối cần quan tâm, quy trình xử lý phải đủ để phá hủy ấu trùng giun tròn. Điều luật của Mỹ quy định quy trình xử lý đông lạnh để phá hủy ấu trùng KST nên để ‐20°C trong 7 ngày hay ‐35°C trong 15 giờ (US.FDA, 2001).

Phương pháp phòng bệnh tốt nhất là xử lý nhiệt (thermal treatment) toàn bộ cá và mực trước khi ăn (>60°C trên 1 phút hay điều kiện ‐20°C trên 24 giờ). Các biện pháp hữu ích để phòng chống Anisakiasis nên thiết lập một hệ thống quy mô Quốc gia, để khởi động chiến dịch giáo dục y tế công cộng chung và tăng kiến thức hiểu biết về tác hại bệnh này. Các biện pháp trên sẽ bổ sung vào trong nên lĩnh vực kinh tế: Thực hành nghi trường, nuôi trồng thủy sản, ngư dân, người bán cá (fishmongers), ngành công nghiệp cá và phụ vụ ăn uống (catering facilities). Sự ưu thế về di truyền có thể xảy ra cho bệnh nhân dẫn đến dị ứng với Anisakis spp. và mối lên quan có thể có giữa bệnh Anisakiasis và ung thư đang được nghiên cứu thêm.

Do vậy, biện pháp phòng chống tốt nhất Anisakiasis là ăn thức ăn nấu chín hoặc đông lạnh phù hợp. Một số sản phẩm cá được biết rõ có thể không an toàn. Điều này áp dụng cho tất cả các sản phẩm cá bảo quản (<NaCl 5%trong pha nước) như cá hun khói lạnh, phi lê cá trích, trứng cá muối và một số thực phẩm cổ truyền địa phương. Đông lạnh trong một thời gian ngắn, hoặc là các sản phẩm còn sống hoặc là các sản phẩm cuối cùng phải xử lý để phòng tránh tốt nhất với KST.Trong hơn 20 năm qua, tính đa dạng trong giống đã được biết đến ngày càng tăng, với sự tiến bộ trong lĩnh vực di truyền để xác định loài. Người ta đã khám phá ra rằng mỗi loài vật chủ cuối cùng là “nhà riêng của nó” về mặt sinh học và mặt di truyền trong xác định các loài đồng hình Anisakis spp., điều này làm được khi phân lập chúng. Các thử nghiệm này cho phép một tỷ lệ các loài đồng huyết thống trong cá được sử dụng như một chỉ điểm xác định quần thể của cá

1.Không ăn các cá còn sống hoặc chưa nấu chín xử lý trong lò vi sóng vì KST không thể bị tiêu diệt hoàn toàn. Do đó, phương pháp xử lý này là không phù hợp;

2.Không được nướng sơ qua vì nhiệt đạt đến 600C không thể đạt chín hết thịt trong vòng ít nhất 10 giây;

3.Tránh ăn cá dạng ngâm rượu, nước ướp thịt hay cá cắt thành lát ngâm với dầu ô liu và chanh hay sạng sushi nếu các loại cá đó chưa được đông lạnh ‐20ºC trong ít nhất 48 giờ trước đó;

4.Khi có cảnh báo về nhiễm Anisakisspp, việc tiêu thụ dù mẫu cá nhỏ cũng không được khuyến cáo. Nếu muốn ăn nó, nên rán chín;

5.Tăng kiến thức cho người tiêu dùng và người sản xuất về sự tồn tại giun Anisakisspp. trong cá. Bệnh có thể dễ dàng ngăn ngừa bằng cách nấu cá đủ chín với nhiệt độ cao 60°C hay đông lạnh. Các tổ chức sức khỏe khuyến cáo rằng tất cả loại động vật có vỏ như cua, sò, vẹm, tôm, trai và cá nên đông lạnh ở điều kiện ‐20°C trong vòng 48 giờ. Ướp muối và dùng nước ướp cá sẽ không giết chết KST;

6.Cơ quan Quản lý Thực Dược phẩm của Mỹ (FDA) khuyến cáo tất cả cá sống và hải sản có vỏ như tôm, cua, sò, vẹm (hoặc thức ăn dạng nửa sống, nửa chín thì nên để nhiệt độ đông ‐35°C hoặc dưới ‐350C trong 15 giờ hoặc để trữ lạnh đến ‐ 20°C dưới 7 ngày là an toàn;

7.Xét nghiệm các cá trên một bàn sạch để chế biến hoặc xử lý giảm bớt số lượng giun trong một số cá bị nhiễm. Phương pháp này không phải là hoàn toàn hiệu quả vàkhông loại bỏ một lượng lớn giun trong cá;

8.Với các biểu hiện lâm sàng và biến chứng có thể đe dọa đến tính mạng người bệnh do Anisakis spp. nên thận trọng và khuyến cáo cộng đồng luôn luôn cẩn thận, có thể truyền thông thay đổi hành vi để giúp cho toàn cộng đồng làm thế nào thực hành ăn uống an toàn để tránh nhiễm các KST nói chung và loài Anisakis spp. nói riêng.

Chia sẻ:

Tin cùng chuyên mục

Một số phương thức tính toán cỡ mẫu nghiên cứu y sinh học trên động vật

Tính toán kích thước mẫu chính xác là điều thiết yếu để đảm bảo đối xử có đạo đức với nghiên cứu trên động vật và mô hình động vật…

Ưu tiên nghiên cứu về lĩnh vực ngoại ký sinh trùng trong bối cảnh biến đổi khí hậu toàn cầu

|

Bệnh do ngoại ký sinh trùng là các bệnh lý do sinh vật sống bám ở bên ngoài cơ thể vật chủ như da, lông, mang, vây hoặc vỏ trên…

Một số khía cạnh trong xét nghiệm phân tìm ký sinh trùng (Phần 2 ‐ Hết)

|

Kết quả xét nghiệm ký sinh trùng có thể bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố từ giai đoạn chuẩn bị, lấy mẫu cho đến kỹ thuật tại phòng xét…

Một số khía cạnh trong xét nghiệm phân tìm ký sinh trùng (Phần 1)

|

Dung dịch F2AM là viết tắt của một dung dịch bao gồm nhiều thành phần Formalin, Fuchsin (hoặc Malachite Green), Alcohol và Methylcellulose (hay được gọi là F2AM hoặc đơn…

Plasmodium malariae: Loài ký sinh trùng sốt rét bị lãng quên với những thách thức mới (Phần 4 ‐ Hết)

Gánh nặng dịch tễ học thực sự và động lực truyền bệnh của P. malariae vẫn bị đánh giá thấp do chẩn đoán chưa đầy đủ, thiếu nhận thức lâm…

Plasmodium malariae: Loài ký sinh trùng sốt rét bị lãng quên với những thách thức mới (Phần 3)

Bất chấp việc bị lơ là do có các loài sốt rét có độc lực mạnh hơn, P. malariae vẫn đóng một vai trò quan trọng trong gánh nặng sốt…

Plasmodium malariae: Loài ký sinh trùng sốt rét bị lãng quên với những thách thức mới (Phần 2)

P. malariae thường cùng tồn tại với các loài Plasmodium khác tại các vùng lưu hành, đặc biệt là P. falciparum và do đó nó thường bị chẩn đoán nhầm…

Plasmodium malariae: Loài ký sinh trùng sốt rét bị lãng quên với những thách thức mới (Phần 1)

Plasmodium malariae là loài ký sinh trùng sốt rét (KSTSR) ít được nghiên cứu nhất trong số năm loài Plasmodium spp. gây bệnh sốt rét ở người, mặc dù có…

Lập bản đồ nguy cơ sốt rét để định hướng hành động toàn cầu (Phần 3 ‐ Hết)

|

Sinh thái bệnh sốt rét thay đổi tùy thuộc vào loài muỗi, với mối quan hệ giữa môi trường và sự lây truyền dự kiến sẽ khác nhau giữa các…

Cơ chế phân tử mới nổi trong bệnh sinh sốt rét và phương pháp điều trị mới: tập trung vào bệnh sốt rét do Plasmodium falciparum (Phần 6‐ Hết)

Bệnh sốt rét vẫn là một gánh nặng lớn đối với sức khỏe toàn cầu, do tính sinh học phức tạp của Plasmodium và trầm trọng hơn bởi sự bất…