Chào mừng bạn đến với website Viện Sốt rét-KST-CT Quy Nhơn

  DANH MỤC

  Liên kết website

  Bản đồ

  Thống kế truy cập

Đang online: 6
Hôm nay: 1
Hôm qua: 67
Tuần này: 262
7 ngày trước: 709
Tháng này: 1187
30 ngày trước: 1199

Vi khuẩn diệt ấu trùng muỗi truyền bệnh

Để phòng chống muỗi truyền bệnh, một số biện pháp can thiệp được tác động vào giai đoạn muỗi trưởng thành. Riêng ấu trùng muỗi ở giai đoạn bọ gậy và cung quăng cũng có những biện pháp giải quyết. Ngoài việc sử dụng các loại hóa chất diệt, còn có phương pháp dùng các loại vi khuẩn diệt ấu trùng thả xuống các thủy vực.

Để phòng chống muỗi truyền bệnh, một số biện pháp can thiệp được tác động vào giai đoạn muỗi trưởng thành. Riêng ấu trùng muỗi ở giai đoạn bọ gậy và cung quăng cũng có những biện pháp giải quyết. Ngoài việc sử dụng các loại hóa chất diệt, còn có phương pháp dùng các loại vi khuẩn diệt ấu trùng thả xuống các thủy vực. Các loại vi khuẩn này tiết ra những độc tố có thể diệt được ấu trùng muỗi, làm hạn chế sự phát triển của muỗi trưởng thành để có khả năng đóng vai trò truyền bệnh.

Vi khuẩn Bacillus thuringiensis

Bacillus thuringiensis tạo ra chất độc tố có thể diệt ấu trùng của muỗi và ruồi vàng rất hiệu nghiệm sau khi chúng ăn phải vào cơ thể. Với liều lượng bình thường, Bacillus thuringiensis không có hại đối với các sinh vật khác như cá, những loại động vật bậc cao và con người. Vi khuẩn này thích hợp để xử lý nước ăn và tưới tiêu, có tác dụng diệt các loại ấu trùng đã kháng hóa chất. Nó có tác dụng phân tán nhanh trong môi trường và được tái sử dụng theo định kỳ. Về giá trị kinh tế, chúng đắt hơn các loại có khả năng điều hòa côn trùng phát triển. Bacillus thuringiensis thường được sản xuất dưới dạng bột thấm nước và dạng hạt, gần đây đã sản xuất thêm dạng bánh nổi trên mặt nước và phân tán trong vòng 30 ngày. Hiệu quả của các loại bánh vi khuẩn không bị ảnh hưởng do thay đổi môi trường, vì vậy sản phầm này thích hợp cho cả môi trường ổn định và tạm thời. Các bánh vi khuẩn có hình nhẫn với đường kính 5 cm dùng để xử lý những điểm sinh sản của ấu trùng muỗi gần nhà ở như ao, chậu, bể và những nơi khó đến gần. Ở những thủy vực nước lộ thiên, bánh vi khuẩn Bacillus thuringiensis không có hiệu lực cao vì dễ bị gió thổi dạt vào một bên bờ. Bánh vi khuẩn nếu sử dụng ở các nơi có nguồn nước bị ô nhiễm cũng không có hiệu quả vì dễ bị chất bùn, rác bám quanh, vì vậy nên dùng ở các thủy vực nước sạch. Bacillus thuringiensis thường được xem là một sản phẩm sinh học, chủ yếu là vi khuẩn đã chết, bào tử sống và các tinh thể độc trong các bào tử không sinh sản, vì vậy sản phẩm này có tác dụng như là một chất diệt côn trùng sản xuất bằng phương pháp sinh học.

Vi khuẩn Bacillus thuringiensis
(Ảnh: ed.ac.uk)

Sản phẩm được sản xuất dưới dạng bột ngấm nước được hòa với nước và phun bằng bình phun có vòi phun hoặc các thiết bị phun khác. Sản phẩm dưới hạng hạt được rải bằng tay hoặc các máy thổi xách tay xuống các điểm thủy vực có nhiều cây cỏ bao phủ. Nếu dùng dạng bánh thì dùng tay thả các bánh sản phẩm xuống mặt nước, cứ 10 m3 nước thả tối đa 4 bánh. Ở những nơi có gió, cần dùng dây buộc các bánh vào cây cỏ, cọc hoặc vật neo khác. Khi chưa sử dụng, các bánh sản phẫm Bacillus thuringiensis cần bảo quản trong túi nylon đóng kín và để nơi mát mẻ, tránh ẩm thấp.

Vi khuẩn Bacillus sphaereicus

Đây là một loại sản phẩm được sản xuất từ một loại vi khuẩn khác gọi là Bacillus sphaereicus, nó cũng tạo ra được độc tố. Sản phẩm này có đặc điểm giống như Bacillus thuringiensis nhưng có hiệu quả cao hơn khi sử dụng tại những nguồn nước bị ô nhiễm, còn Bacillus thuringiensis chỉ có hiệu lực ở các nguồn nước sạch. Nhược điểm của sản phẩm Bacillus sphaereicus là không có tác dụng đối với ruồi vàng và muỗi truyền bệnh Aedes aegypti nhưng có ưu điểm là tác dụng diệt ấu trùng lâu hơn loại Bacillus thuringiensis. Sản phẩm Bacillus sphaereicus có khả năng diệt được ấu trùng muỗi Culex rất hiệu quả ở môi trường nước bị ô nhiễm. Trong môi trường này, Bacillus sphaereicus có hiệu quả cao hơn các loại khác, có ưu điểm là khá an toàn đối với những sinh vật không cần tiêu diệt và có mức độ kháng thấp. Mặc dù sản phẩm Bacillus sphaereicus đang còn trong quá trình sản xuất nhưng đã có một số sản phẩm xuất hiện trên thị trường. Tại các khu vực thử nghiệm, các bánh sản phẩm Bacillus sphaereicus phân tán chậm và có hiệu quả trong vòng 8 tuần. Sản phẩm này cũng có dạng hạt, bột thấm nước và dung dịch đậm đặc.

Xác lăng quăng chết sau khi tiếp xúc với chế phẩm vi sinh vật từ vi khuẩn
Bacillus thuringiensis subsp. israelensis serotype H14.
Ảnh: H.Nhung ( nguồn ảnh : vietnamnet.vn)

Sử dụng sản phẩm này bằng dung dịch đậm đặc được pha đều với nước và phun bằng loại bình phun có vòi. Trong khi phun, thỉnh thoảng phải lắc đều bình chứa. Liều lượng dùng tùy thuộc vào côn trùng cần tiêu diệt và đặc điểm của nguồn nước. Để diệt được ấu trùng của loài muỗi Culex ở nước ao tù, liều thường dùng là 0,1 đến 10 ml/ m2. Hiệu quả tác dụng thấp nhất từ 1 đến 2 tuần và cao nhất từ 2 đến 3 tháng. Đối với diện tích mặt nước lớn và có mức độ ô nhiễm cao, cần phun sản phẩm với liều lượng 1 đến 4 lít/ ha.

Ngoài các biện pháp tác động ảnh hưởng vào muỗi trưởng thành, việc sử dụng phương pháp sinh học để diệt ấu trùng muỗi truyền bệnh bằng ứng dụng tác động của độc tố các vi khuẩn là một biện pháp phối hợp can thiệp cùng với những loại hóa chất diệt ấu trùng cũng được ngành y tế dự phòng quan tâm để khống chế bệnh phát triển. Sử dụng biện pháp dùng vi khuẩn diệt ấu trùng muỗi mặc dù trên thực tế ứng dụng chưa được phổ biến nhưng nếu có điều kiện và triển khai thực hiện với đầy đủ quy trình kỹ thuật cũng góp phần hạ thấp mật độ hoạt động của trung gian truyền bệnh.

Tác giả: TTƯT.BS. Nguyễn Võ Hinh
Giám đốc Trung tâm PCSR‐KST‐CT Thừa Thiên Huế
Chia sẻ:

Tin cùng chuyên mục

Cập nhật về hệ gen muỗi Anopheles spp. đóng góp cho lộ trình ​tiến tới loại trừ sốt rét trên toàn cầu (Phần 2)

|

Nhìn chung, đa dạng sinh học cao là một chỉ báo về hệ sinh thái khỏe mạnh và môi trường ổn định (Ủy ban Châu Âu, 2019). Điều này liên…

Cập nhật về hệ gen muỗi Anopheles spp. đóng góp cho lộ trình tiến tới loại trừ sốt rét trên toàn cầu (Phần 3‐Hết)

|

Đến nay, chỉ có các thử nghiệm thực địa được thực hiện trong đó các sinh vật biến đổi gen được kiểm soát về mặt vật lý hoặc sinh thái.…

Cập nhật về hệ gen muỗi Anopheles spp. đóng góp cho lộ trình ​tiến tới loại trừ sốt rét trên toàn cầu (Phần 1)

|

Bệnh sốt rét là mối đe dọa nghiêm trọng đối với sức khỏe cộng đồng trên toàn thế giới. Theo Báo cáo về sốt rét của Tổ chức Y tế…

Cập nhật thông tin về đường lan truyền và gánh nặng của một số bệnh do ngoại ký sinh trên thế giới (còn nữa)

|

Theo đánh giá của Tổ chức Y tế Thế giới (TCYTTG),các bệnh do véc tơ truyền (VBDs‐Vector Bornes Diseases) chiếm hơn 17% trong số các bệnh truyền nhiễm và là…

Phần 3. Tăng cường kiểm soát véc tơ: nhận diện và đếm trứng muỗi Aedes albopictus (Diptera: Culicidae) dựa trên trí tuệ nhân tạo (tiếp theo và hết)

|

KẾT QUẢ Tập huấn mô hình Sau 20 epoch huấn luyện, tốc độ học của mô hình giảm từ 0.005 xuống 0.000006 (Hình 5A), với sự suy giảm sau mỗi…

Phần 2. Tăng cường kiểm soát véc tơ: nhận diện và đếm trứng muỗi Aedes albopictus (Diptera: Culicidae) dựa trên trí tuệ nhân tạo (tiếp theo Phần 1)

|

QUY TRÌNH THÍ NGHIỆM Thu thập trứng muỗi Aedes albopictus Ovitrap là một hộp nhựa có dung tích khoảng 200 ml và được trang bị nắp đen có lỗ.…

Phần 1. Tăng cường kiểm soát véc tơ: nhận diện và đếm trứng muỗi Aedes albopictus (Diptera: Culicidae) dựa trên trí tuệ nhân tạo (còn nữa)

|

Kết quả: Thực nghiệm cho thấy khả năng nhận diện vượt trội của mô hình, với độ chính xác đạt 0.977, độ nhạy đạt 0.978, và điểm F1 là 0.977.…

Véc tơ và phân bố các véc tơ theo từng quốc gia trong khu vực Đông và Nam Á

Tổ chức Y tế thế giới (TCYTTG) phân chia các quốc gia trên toàn cầu thành 6 khu vực, trong đó khu vực Đông và Nam Á có 11 thành…

Cập nhật viêm dạ dày ruột tăng bạch cầu ái toan‐Phần 2: Viêm dạ dày ruột tăng bạch cầu ái toan ‐ Chẩn đoán & Quản lý

Trước hết, nhiều tổng kết về các căn bệnh này cho thấy khi BCAT nhiều sẽ gây thương tổn và kích thích dạ dày ruột. EoG ảnh hưởng lên tất…

Cập nhật thông tin các bệnh do véc tơ truyền tháng 9 năm 2024 của Tổ chức Y tế Thế giới

|

Theo đánh giá của Tổ chức Y tế Thế giới,các bệnh do véc tơ truyền chiếm hơn 17% trong số các bệnh truyền nhiễm và là nguyên nhân gây ra…