Chào mừng bạn đến với website Viện Sốt rét-KST-CT Quy Nhơn

  DANH MỤC

  Liên kết website

  Bản đồ

  Thống kế truy cập

Đang online: 3
Hôm nay: 93
Hôm qua: 23
Tuần này: 579
7 ngày trước: 585
Tháng này: 1072
30 ngày trước: 1118

Pyrethrine và thuốc diệt côn trùng loại Pyrethroides

Các pyrethrine là các thuốc diệt côn trùng tự nhiên được chiết từ cây hoa cúc.. Pyrethrum và Piperonyl butoxid đều là Pyrethrine. yréthroides là các thuốc diệt côn trùng tổng hợp có cấu tạo hoá học tương tự Các hoá chất sau đây đều là Pyréthroides: Bioresmethrine, Xypermethrine, Deltamethrine, Fenvalerat, Permethrine và Resmethrine

Các pyrethrine là các thuốc diệt côn trùng tự nhiên được chiết từ cây hoa cúc.. Pyrethrum và Piperonyl butoxid đều là Pyrethrine. yréthroides là các thuốc diệt côn trùng tổng hợp có cấu tạo hoá học tương tự Các hoá chất sau đây đều là Pyréthroides: Bioresmethrine, Xypermethrine, Deltamethrine, Fenvalerat, Permethrine và Resmethrine

Thuốc được ứng dụng diệt côn trùng dạng phun trong gia đình và trong một số bẫy trừ muỗi. Chúng được dùng để khống chế côn trùng ở những nơi cất giữ các hạt, bột và sản phẩm trong nông nghiệp dùng để phun lên rau, cây ăn quả. Chúng được bán ở dạng chất lỏng, thuốc phun, phấn và bột. Nếu bị dể gây kích thích ở hệ hô hấp đặc biệt là phổi‐phế quản và có thể ảnh hưởng lên não bộ cùng thần kinh trung ương.

Về độc tính:

Pyréthrine và Pyréthroides là những thuốc diệt côn trùng không quá độc nếu nuốt phải, đánh đổ vào người hoặc hít phải. Đôi khi cúng cũng gây ra phản ứng dị ứng. Nạn nhân có thể ngộ độc nặng nếu nuốt phải một lượng lớn hoá chất đậm đặc, nhưng rất hiếm trừ khi tự độc hay ngộ sát.

Các dấu chứng và triệu chứng:

Kích thích, ngứa da, nổi ban và mụn nếu thuốc văng vào da; chảy nước mũi và đau họng, một số người có thể thở khò khè, hắt hơi và thở hổn hển nếu hít phải thuốc; buồn nôn, nôn mửa, có thể co giật sau khi nuốt phải một lượng lớn hóa chất; nếu vào mắt có thể gây kích thích mạnh, tăng tiết nước mắt.

Phản ứng dị ứng: sốc, da nhợt nhạt, chảy mồ hôi, mạch nhanh và yếu.

Thái độ xử trí:

Nếu nạn nhân có phản ứng dị ứng: tiến hành sơ cứu nếu bệnh nhân ngừng thở thì hô hấp nhân tạo, thông thoáng đường thở và xoa bóp tim ngoài lồng ngực. Để nạn nhân nằm ngửa, đầu nghiêng về một bên và chân kê cao hơn đầu. Tư thế này giúp cho máu lên não và giảm nguy cơ tắc đường thở do chất nôn ra rồi trào ngược trở lại. Cần đưa nạn nhân vào bệnh viện càng sớm càng tốt.

Nếu bị vào mắt: rửa mắt ít nhất 15‐20 phút bằng nước thường hoặc dung dịch natri carbonate 2%, kiểm tra kỹ không để vụn hoá chất bám trên lông mi, lông mày, hoặc trong các nếp nhăn của mắt và sau đó đưa nạn nhân vào bệnh viện.

Nếu vào da: cởi ngay quần áo, giày bít tất và đồ trang sức bị nhiễm hoá chất. Chú ý không được để hoá chất dính vào da hoặc quần áo của người sơ cấp cứu. Rửa cẩn thận da, móng tay chân, tóc bằng xà phòng và nước lạnh hay nước ấm ít nhất 15 phút, dùng vòi nước chảy nếu có thể được.

Thông tin cho bác sĩ bên ngoài viện nếu bệnh nhân có phản ứng dị ứng (sốc phản vệ) nặng. Cho thở oxy qua mặt nạ với nồng độ càng cao càng tốt. Đặt ống thở nếu bệnh nhân mất ý thúc và bắt đầu chuyển sang hôn mê.

Tiêm bắp Epinéphrine (hoặc adrénaline) 1/1000 (1 mg/1ml) càng nhanh càng tốt trừ khi mạch trung tâm còn mạnh và tình trạng chung còn tốt. Bất kỳ sự chậm trể nào cũng đều có thể gây tử vong cho nạn nhân; có thể cho dùng các thuốc kháng histamine (Chloraphéniramine, Prométhazine) tiêm tĩnh mạch chậm sau khi dùng ephédrine tỏ ra hữu ích điều trị phát ban da, ngứa hoặc nổi các nốt phỏng, đồng thời ngăn ngừa tái phát.

Tuổi

Liều Epinephrine

(1 trong 1000, 1mg/ml)

< 1 tuổi

0,05 ml

1 tuổi

0,1 ml

2 tuổi

0,2 ml

3‐4 tuổi

0,3 ml

5 tuổi

0,4 ml

6‐12 tuổi

0,5 ml

Người lớn

0,5 ‐1 ml

Nếu nạn nhân không tiến triển khá hơn cần tiến hành các biện pháp hổ trợ chăm sóc tích cực, cần thiết: thở oxy và thông khí, truyền dịch tĩnh mạch, có thể cho hít salbutamol hoặc tiêm theophylline tính mạch để chống dị ứng hoặc thở khò khè.

Chất xua đuổi côn trùng

Các hoá chất này là Diethyl toluamide còn gọi là N, N‐diethyl‐3‐toluamide hoặc DEET. Thuốc Diethyl toluamidedùng bôi trên da làm chất đuổi côn trùng, bọ chét. Nó không có tác dụng chống các côn trùng chân đốt. Sản phẩm có các dạng thoa, thỏi kem, dạng phun sương hay khăn lau. Nồng độ có thể thay đổi từ 5% ‐10%.

1.Tác hại: nó có gây tổn thương não, bôi trên da nhiều lần có thể gây nổi ban và viêm da.

2.Độc tính: thường không xảy ra ngộ độc nặng, nếu có do nuốt phải một lượng lớn sản phẩm có nồng độ cao hoặc bôi trên da quá nhiều trong một thời gian nhiều tuần liên tiếp. Theo các báo cáo thì ngộ độc xảy ra trẻ em nhiều hơn người lớn, nam nhiều hơn nữ, rất hiếm xảy ra ngộ độc cấo tính có tổn thương não cho trẻ em.

3.Các dấu chứng và triệu chứng: trẻ em ngộ độc do hoá chất đuổi côn trùng được phun lên da trong nhiều tuần, hoặc do ngủ trên giường phun DEET. Triệu chứng ngộ độc trẻ em có thể nhầm với nhiễm virus.

Nếu nuốt phải một lượng nhỏ các sản phẩm có nồng độ thấp thì buồn nôn, nôn, đau bụng, ỉa chảy. Nếu một lượng lớn sản phẩm có nồng độ cao, trong vòng 30 phút đến 6 giờ bệnh nhân có thể sẽmất ý thức, co giật, tổn thương gan.

Rất hiếm xảy ra ngộ độc cấp ở trẻ em có thể gây tổn thương não với các triệu chứng: nói liếu nhíu, đi lảo đảo, cử động bất thường các ngón tay và chân, run, co giật, thở nông, hạ huyết áp, mạch nhanh.

Nếu vào mắt: kích thích mắt, có thể cảm giác bỏng rát nếu nồng độ đậm đặc hơn.

Vào da: nếu dung dịch đậm đặc > 50% DEET có cảm giác bỏng rát trên da và mụn nước, loét. Sau khi dùng nhiều lần: đỏ da và nổi ban, có dấu hiệu ngộ độc nếu dùng một lượng lớn.

4.Thái độ xử trí: tiến hành sơ cứu nạn nhân, hô hấp nhân tạo, đặt nạn nhân đúng tư thế như trên., rửa mắt, nếu dính quần áo thì cởi ngay quần áo, rửa thật sạch toàn thân bằn nước ấm. Nếu bị vào đường uống thì gây nôn cho bệnh nhân và dùng than hoạt, cuối cùng cho thuốc nhuận tràng để tống các chất độc ra ngoài.

Một số dạng thuốc dùng trong mục đích xua đuổi côn trùng:

1.Dung dịch hay dạng dịch lỏng (solution, fluide, liquide) là một hỗn hợp gồm một hay nhiều thuốc dạng dặc hoà tan trong một dung dịch chuyên chở lỏng. Phân tử của các chất hoà tan thuần nhất với nhau, nhưng không thay đổi tính chất hoá học của mỗi loại. Các tên gọi solution, fluide, liquide là tên chung chung của các thuốc ở dạng dịch lỏng. Solution, lotion, emulsion thường dùng dạng thoa ngoài da.

2.Thuốc thoa ngoài da (topical solution) thường là những thuốc diệt khuẩn, xua đuổi côn trùng gây khó chịu hay gây bệnh cho người và súc vật, song một số thuốc làm khô da, teo da do tính chất giảm tiết dịch và ngưng kết protein.

3.Dạng hổn dịch, dịch treo (suspension) vì nhiều loại thuốc không thể hoà tan được trong những dung môi không thể phù hợp với việc dùng thuốc, nên những thuốc này phải được dùng dưới dạng đặc hay dịch treo. Hỗn dịch có cấu tạo bền vững hơn dạng dung dịch, luôn luôn gồm một hay nhiều thuốc dưới dạng các hạt đặc nhỏ nằm trong dung dịch nền. Các dịch treo thường dùng trong lĩnh vực côn trùng…Không bao giờ được dùng để tiêm vào đường động mạch hay tĩnh mạch.

Thái độ xử trí sẩn ngứa do côn trùng đốt:

Một số loài côn trùng (bọ chét, ruồi vàng, …) khi đốt người có thể gây ra nốt sẩn thịt đỏ, nề ngứa như nốt muỗi đốt. Vị trí muỗi đốt thường là vị trí da hở (tay, chân, cổ), với bọ chét có thể chui qua khe kẻ quần áo và đốt trong thân mình. Các nốt sẩn thịt này thường sau 3‐4 ngày biến mất dần để lại vết hơi sạm. Tuy nhiên, có một số nốt do gãi nhiều, nốt sẩn bị trầy xước do và nhiễm khuẩn, tạo mũ lở loét, thậm chí trở thành đám sần lan rộng hoặc khu trú tại chỗ như tổn thương eczema tồn tại rất dai dẳng.

Một số người có cơ địa di ứng, nốt sẩn dần cứng lại thành sẩn cục, như hạt ngô, gò cao trên da, cộm cứng, ngứa nhiều và dai dẳng, bệnh nhân dể gãi bật máu. Nếu có nhiều nốt tạo thành đám chi chít làm cho da tại chỗ dày cộm, rất khó điều trị. Sẩn ngứa do côn trùng gây đau đớn, ảnh hưởng rất nhiều đến sinh hoạt, công tác. Nếu nhiễm khuẩn có thể gây nên những biến chứng nội tạng nguy hiểm ( nhiễm khuẩn lan toả, viêm cầu thận cấp).để phòng bệnh cần chú ý:

Vệ sinh ngoại cảnh, phát quang bụi rậm quanh nhà, có tác dụng thu hẹp phạm vi ẩn náu của côn trùng (kể cả ruồi vàng, dĩn, muỗi, bọ chét); phun thuốc diệt côn trùng (permethrine, DDVP); tuyên truyền cho nhân dân địa phương giữ vệ sinh quanh nhà, làm chuồng nuôi gia súc, gia cầm xa nhà, tích cực diệt chuột. Khi đi rừng hoặc đi trời tối nên mặc áo quần dài, buộc kín nơi cổ tay, đi tất, dùng các thuốc xoa côn trùng như DEP, dầu sả,…có tác dụng xua 4‐5 giờ. Khi mới bị côn trùng đốt nên nặn nhẹ cho ra một tý máu (có tác dụng thải bớt độc tố) sau đó bôi thuốc sát khuẩn tại chỗ (cồn 700,, cồn Iode hoặc sử dụng một số lá cây có tác dụng sát khuẩn như trầu không, ngải cứu…có thể làm giảm ngứa và chóng tan nốt sẩn tịt. Có thể dùng một số thuốc chống ngứa dạng antihistamine không gây buồn ngủ như biệt dược Mizollen, Histalong, Astelong, Lergitec, Loratidine, Loratec, Cezine,… Các nốt sẩn nhiều mũ cần lau rửa sạch mủ, chấm các thuốc sát khuẩn tại chỗ (méthylène bleu), có thể dùng nước sắc lá trầu không tắm rửa cũng có tác dụng tốt.

Tài liệu tham khảo chính:
1.WHO (2004). Phòng chẩn đoán và điều trị nhiễm độc hóa chất diệt côn trùng. Geneva
2.WHO (1993). Chuyên khảo về Dengue/ Sốt xuất huyết Dengue. Geneva CDT/FIL (DEN)/94.4.
3.WHO (2002). Hướng dẫn giám sát dengue và phòng chống vector. NXB y học, Hà Nội.
4.Vũ Văn Đính (2005). Cấp cứu hồi sức, tập I và II. NXB Y học, Hà Nội 2005

Tác giả: Ths.Bs. Huỳnh Hồng Quang
Chia sẻ:

Tin cùng chuyên mục

Cập nhật về hệ gen muỗi Anopheles spp. đóng góp cho lộ trình ​tiến tới loại trừ sốt rét trên toàn cầu (Phần 2)

|

Nhìn chung, đa dạng sinh học cao là một chỉ báo về hệ sinh thái khỏe mạnh và môi trường ổn định (Ủy ban Châu Âu, 2019). Điều này liên…

Cập nhật về hệ gen muỗi Anopheles spp. đóng góp cho lộ trình tiến tới loại trừ sốt rét trên toàn cầu (Phần 3‐Hết)

|

Đến nay, chỉ có các thử nghiệm thực địa được thực hiện trong đó các sinh vật biến đổi gen được kiểm soát về mặt vật lý hoặc sinh thái.…

Cập nhật về hệ gen muỗi Anopheles spp. đóng góp cho lộ trình ​tiến tới loại trừ sốt rét trên toàn cầu (Phần 1)

|

Bệnh sốt rét là mối đe dọa nghiêm trọng đối với sức khỏe cộng đồng trên toàn thế giới. Theo Báo cáo về sốt rét của Tổ chức Y tế…

Cập nhật thông tin về đường lan truyền và gánh nặng của một số bệnh do ngoại ký sinh trên thế giới (còn nữa)

|

Theo đánh giá của Tổ chức Y tế Thế giới (TCYTTG),các bệnh do véc tơ truyền (VBDs‐Vector Bornes Diseases) chiếm hơn 17% trong số các bệnh truyền nhiễm và là…

Phần 3. Tăng cường kiểm soát véc tơ: nhận diện và đếm trứng muỗi Aedes albopictus (Diptera: Culicidae) dựa trên trí tuệ nhân tạo (tiếp theo và hết)

|

KẾT QUẢ Tập huấn mô hình Sau 20 epoch huấn luyện, tốc độ học của mô hình giảm từ 0.005 xuống 0.000006 (Hình 5A), với sự suy giảm sau mỗi…

Phần 2. Tăng cường kiểm soát véc tơ: nhận diện và đếm trứng muỗi Aedes albopictus (Diptera: Culicidae) dựa trên trí tuệ nhân tạo (tiếp theo Phần 1)

|

QUY TRÌNH THÍ NGHIỆM Thu thập trứng muỗi Aedes albopictus Ovitrap là một hộp nhựa có dung tích khoảng 200 ml và được trang bị nắp đen có lỗ.…

Phần 1. Tăng cường kiểm soát véc tơ: nhận diện và đếm trứng muỗi Aedes albopictus (Diptera: Culicidae) dựa trên trí tuệ nhân tạo (còn nữa)

|

Kết quả: Thực nghiệm cho thấy khả năng nhận diện vượt trội của mô hình, với độ chính xác đạt 0.977, độ nhạy đạt 0.978, và điểm F1 là 0.977.…

Véc tơ và phân bố các véc tơ theo từng quốc gia trong khu vực Đông và Nam Á

Tổ chức Y tế thế giới (TCYTTG) phân chia các quốc gia trên toàn cầu thành 6 khu vực, trong đó khu vực Đông và Nam Á có 11 thành…

Cập nhật viêm dạ dày ruột tăng bạch cầu ái toan‐Phần 2: Viêm dạ dày ruột tăng bạch cầu ái toan ‐ Chẩn đoán & Quản lý

Trước hết, nhiều tổng kết về các căn bệnh này cho thấy khi BCAT nhiều sẽ gây thương tổn và kích thích dạ dày ruột. EoG ảnh hưởng lên tất…

Cập nhật thông tin các bệnh do véc tơ truyền tháng 9 năm 2024 của Tổ chức Y tế Thế giới

|

Theo đánh giá của Tổ chức Y tế Thế giới,các bệnh do véc tơ truyền chiếm hơn 17% trong số các bệnh truyền nhiễm và là nguyên nhân gây ra…