Chào mừng bạn đến với website Viện Sốt rét-KST-CT Quy Nhơn

  DANH MỤC

  Liên kết website

  Bản đồ

  Thống kế truy cập

Đang online: 2
Hôm nay: 9
Hôm qua: 425
Tuần này: 471
7 ngày trước: 480
Tháng này: 1038
30 ngày trước: 1058

OptiViVax: Một sự hợp tác quốc tế mới để tối ưu hóa vaccine sốt rét phòng chống lại Plasmodium vivax trong tương lai (Phần 2‐Hết)

P. vivax là một loài KST đơn bào trong đường máu thường gây sốt rét và ít gây sốt rét ác tính hơn so với P. falciparum. Loài P. vivaxcó khả năng hình thành thể ngủ trong tế bào gan và chịu trách nhiệm cho vấn đề gây ra tái phát sau nhiều tháng, thậm chí nhiều năm kể từ lần nhiễm đầu tiên, đồng thời sự lưu hành rộng rãi và phân bố toàn cầu của chúng cũng là vấn đề cần quan tâm.

Tiếp theo Phần 1


Giới thiệu về Dự án OptiViVax

Dự án: Tối ưu hóa vaccine sốt rétPlasmodium vivax hiệu quả cao

Thời gian: 60 tháng, bắt đầu từ ngày 01 tháng 6 năm 2023 với Ngân sách: €11.170.737.1

Điều phối viên: Stichting Radboud Universitair Medisch Centrum và Đại học Oxford.

Hiệp hội: 9 đối tác (từ 4 nước EU + Anh + Ethiopia + Thụy Sĩ)

1.Viện Thực hành y khoa hàn lâm tại Hà Lan (Stichting Radboud Universitair Medisch Centrum‐SRUMC, Hà Lan);

2.Viện Nghiên cứu Y khoa Quốc gia Pháp (Institut National de la Santé et de la Recherche Médicale‐INSRM, Pháp);

3.Trung tâm Nghiên cứu vaccine Novavax AB, Thụy Điển;

4.Đại học Cork (University College Cork‐UCC) thuộc Đại học Quốc gia Ireland, Ireland;

5.Viện nghiên cứu Armauer Hansen, Ethiopia;

6.Viện Nghiên cứu phát triển vaccine, Thụy Sĩ;

7.Đại học Y học Nhiệt đới và Vệ sinh Luân Đôn, Vương quốc Anh;

8.Đại học Cambridge, Vương quốc Anh;

9.Đại học Oxford, Vương quốc Anh.

Giới thiệu về Đại học Oxford

Đại học Oxford đã đứng đầu trong Bảng xếp hạng Đại học Thế giới của Times Higher Education trong 8 năm liên tiếp và đứng thứ 3 trong Bảng xếp hạng Thế giới của QS 2024. Lý giải cho sự thành công này là hai trụ cột: Nghiên cứu và đổi mới đột phá cũng như chương trình giáo dục đặc biệt. ĐH Oxford nổi tiếng thế giới về nghiên cứu và giảng dạy xuất sắc và là ngôi nhà của một số cá nhân tài năng nhất trên toàn cầu. Công việc của họ giúp ích cho cuộc sống của hàng triệu người, giải quyết các vấn đề trong thế giới thực thông qua mạng lưới quan hệ đối tác và cộng tác khổng lồ. Tính chất rộng lớn và liên ngành của nghiên cứu của trường cùng với phương pháp giảng dạy được cá nhân hóakích thích những hiểu biết và giải pháp giàu trí tưởng tượng và sáng tạo.

Thông qua bộ phận thương mại hóa và cải tiến nghiên cứu‐“Oxford University Innovation, Oxford là trường đại học nộp đơn xin cấp bằng sáng chế cao nhất trong các trường ở Anh và đứng đầu tại Anh về việc tạo ra các công ty con, với hơn 300 công ty mới được tạo ra từ năm 1988. Hơn một phần ba số công ty này đã được thành lập trong 05 năm qua. Trường đại học này là tác nhân thúc đẩy sự thịnh vượng ở Oxfordshire và Anh, đóng góp 15,7 tỷ bảng Anh cho nền kinh tế Anh trong năm 2018‐2019 và hỗ trợ hơn 28.000 việc làm toàn thời gian.

Giới thiệu về Khoa Hóa sinh, Đại học Oxford

Khoa bao gồm khoảng 850 nhà nghiên cứu, sinh viên và cán bộ hỗ trợ tài năng, những người có chung niềm đam mê và mục đích khám phá, giải thích và nâng cao cuộc sống con người. Các nhà khoa học được nhóm lại thành năm lĩnh vực nghiên cứu rộng: Sinh học tế bào, Phát triển và Di truyền; Sinh học nhiễm sắc thể và RNA; Quá trình lây nhiễm và bệnh tật; Vi sinh và Sinh học Hệ thống; và Sinh học cấu trúc và Lý sinh học phân tử. Các nhóm nghiên cứu được tổ chức theo các Chủ đề nghiên cứu này và nhiều nhóm trải rộng trên nhiều chủ đề.

Là một bộ phận của Khoa Khoa học Y tế tại Đại học Oxford và chuyên giảng dạy cũng như nghiên cứu y sinh với chất lượng cao nhất. Nhiều nhà nghiên cứu của chúng tôi đã đạt được sự công nhận quốc tế và khoa là nơi có bốn người đoạt giải Nobel hoặc Giải đột phá (Breakthrough Prize). Sự tò mò sâu sắc và cam kết đạt đến sự xuất sắc không chỉ thúc đẩy nghiên cứu hiện tại mà còn mang lại lợi ích cho thế hệ tương lai thông qua hoạt động giảng dạy.Họ có khoảng 450 sinh viên theo học nhiều khóa học đại học và sau đại học, đồng thời nhiều trưởng nhóm và nghiên cứu viên sau tiến sĩ đều tham gia giảng dạy. Điều này cho phép sinh viên học hỏi từ những tư duy hàng đầu thế giới và tương tác trực tiếp với kiến thức tiên tiến.

Sự bình đẳng là trọng tâm trong cộng đồng, tận hưởng sự pha trộn sôi động giữa các nền văn hóa, kỹ năng, quốc tịch và giới tính được đại diện trong Khoa ‐ điều đó giúp họ được hưởng lợi từ những quan điểm và ý tưởng mới. Họ đặc biệt cam kết loại bỏ mọi trở ngại có thể ngăn cản phụ nữ và những người từ các nhóm thiểu số phát triển trong sự nghiệp học thuật, nên họ tự hào khi nhận Giải Bạc từ Chương trình Athena SWAN của ECU ‐ một chương trình thúc đẩy sự bình đẳng và đa dạng trong giáo dục đại học.

Các nổ lực triển khai nghiên cứu vaccine hướng đến các loài KSTSR khác nhau

P. vivax là một loài KST đơn bào trong đường máu thường gây sốt rét và ít gây sốt rét ác tính hơn so với P. falciparum. Loài P. vivaxcó khả năng hình thành thể ngủ trong tế bào gan và chịu trách nhiệm cho vấn đề gây ra tái phát sau nhiều tháng, thậm chí nhiều năm kể từ lần nhiễm đầu tiên, đồng thời sự lưu hành rộng rãi và phân bố toàn cầu của chúng cũng là vấn đề cần quan tâm.

Dự án nghiên cứu vaccine OptiViVax dưới sự tài trợ của Chương trình HORIZON nhằm mục đích thúc đẩy nghiên cứu và phát triển vaccine thế hệ mớithông qua sử dụng các tiếp cận cải tiến. Các nhà nghiên cứu có kế hoạch mở rộng phát triển các kháng nguyên cho thử nghiệm lâm sàng và khá phá các điểm nền tảng mới. Đi sâu vào cơ chế bảo vệ qua trung gian kháng thể (antibody‐mediated protection) đi cùng với những tiến bộ trong nghiên cứu và công cụ lâm sàng sẽ góp phần và thiết kế các vaccine tối ưu nhất.

Thách thức

P. vivaxlà tác nhân gây bệnh sốt rét ở người phân bố rộng nhất với 2,5 tỷ người đang sống trong nguy cơ tại châu Phi, Nam Mỹ, châu Đại Dương và châu Á. Hơn 5 năm qua, Dự án OptiViVax tạo ra một diễn đàn mới, hàn lâm và công nghiệp sẽ xây dựng các đột phát thú vị trong nghiên cứu sốt rét và lồng ghép vào trong “các tiến bộ mang tính học thuật và cả nghệ thuật” về lĩnh vực miễn dịch ký sinh trùng, thiết kế vaccine và các nghiên cứu lâm sàng và tiền lâm sàng cải tiến (innovative pre‐clinical and clinical studies) để phát triển các vaccine thế hệ mới có hiệu lực tăng lên chống lại loài P. vivax.

Hiện tại, đã có hai loại vaccine được chấp nhận để dùng phòng bện sốt rét do P. falciparum nhưng chưa có vaccine chống lại P. vivax. Trong khi có nhiều điểm tương đồng giữa P. falciparumP. vivax, thì còn có một mốt khác biệt quan trọng có ảnh hưởng lên sự lan truyền của loài P. vivax và cần phải nổ lực hơn để chống lại nó. Sốt rét do P. vivaxlan truyền nhanh từ người sang người thông qua muỗi đốt và ngược với P. falciparum,là chúng có thể tái phát sôt rét trở lại lần nữa do sự tồn tại thể ngủ trong gan kể từ lần nhiễm đầu tiên của ký sinh trùng. Đáng kể làtái phát sốt rét do P. vivax phần lớn người ta nghĩ rằng là phần lớn là do nhiễm mới (80‐90%). P. vivax lan rộng hơn cả P. falciparumvà các nghiên cứu gần đây chỉ ra một gánh nặng bệnh không hề nhỏ, đặc biệt là trẻ em nhỏ và phụ nữ mang thai.

Lộ trình Công nghệ vaccine sốt rét đến năm 2030 (Malaria Vaccine Technology Roadmap to 2030)đã hỗ trợ TCYTTG nhận ra độ trầm trọng của sốt rét P. vivax, kêu gọi một chiến lược can thiệp vaccine để đạt hiệu lực 75% qua hai năm, tương đương với vaccine chốngP. falciparum.

Giải pháp

Dự án vaccine OptiViVax cùng nhau bởi các nhà khoa học và Viện nghiên cứu Hàn lâm, các đối tác công nghiệp và phi lợi nhuận, với các chuyên gia phát triển vaccine, nhà sản xuất và thử nghiệm lâm sàng. Dự án sẽ xây dựng dựa trên các nền tảng thử nghiệm tiền lâm sàng, sinh học miễn dịch về P. vivax, thử nghiệm chức năng tiền lâm sàng, phát triển vaccine và mô hình lâm sàng nhiễm trùng sốt rét ở người có đối chứng (controlled human malaria infection (CHMI) clinical models) và phát triển các vaccine thế hệ mới có cải thiện hiệu lực thuốc.

Các mục tiêu của OptiViVax giờ đây là tích hợp các tiếp cận lâm sàng và khoa học đa ngành trên chu kỳ sinh học của ký sinh trùng và sẽ sử dụng các kiến thức về sinh học miễn dịch P. vivax gần đây để phát triển thêm các vaccine thế hệ mới có cải thiện về mặt hiệu lực.

Tác động

Đa dạng hóa các đích và nền tảng của các kháng nguyên mới sẵn có để thử nghiệm lâm sàng thông qua cơ sở vaccine học đảo nghịch sẽ gia tăng, trong khi đó cũng cần nghiên cứu thêm về các chất phụ gia. Các tiến bộ này sẽ đạt được thông qua cải tiến sản xuất theo tiêu chuẩn sản xuất sinh học đạt GMP (GMP bio‐manufacturing).

Song song, hiệu lực vaccine được biết là các kháng nguyên dẫn đầu sẽ làm cơ sở cho cải tiến thiết kế của nghiên cứu lâm sàng và mô hình CHMI để đưa ra các ứng viên vaccine sẵn sàng cho các thử nghiệm thực địa trong tương lai. Các thử nghiệm tiền lâm sàng được cải thiện với các dòng ký sinh trùng sốt rét chuyển gen đạt đến trình độ cao nhất (state‐of‐the‐art transgenic parasite lines), cho phép cơ chế bảo vệ qua trung gian kháng thể (AMP_antibody‐mediated protection). Khi đã có sẵn các kết quả từ thử nghiệm chức năng mới và các mô hình thử thách trên người sẽ đưa ra quyết định thử nghiệm vaccine trên cộng đồng, cho nhà làm chính sách, nhà tài trợ và các cơ quan chức năng khác.

Hết


NGUỒN THAM KHẢO CHÍNH

1.https://vi.wikipedia.org/wiki/Plasmodium_vivax

2.https://kavlinano.ox.ac.uk/article/optivivax‐new‐international‐collaboration‐optimise‐vaccine‐plasmodium‐vivax‐malaria

3.https://www.lshtm.ac.uk/research/centres/malaria‐centre/news/395296/optivivax‐new‐consortium‐revolutionize‐vaccination‐against‐plasmodium‐vivax https://www.cimr.cam.ac.uk/news/optimising‐vaccine‐plasmodium‐vivax‐malaria https://sspc.ie/optivivax‐developing‐a‐vaccine‐to‐address‐human‐malaria/ https://cordis.europa.eu/project/id/101080744
https://optivivax.web.ox.ac.uk/

4.https://draperlab.web.ox.ac.uk/research

5.https://www.vivaxmalaria.org/p‐vivax‐malaria‐an‐introduction

6.https://www.linkedin.com/posts/optivivax_optivivax‐a‐new‐international‐collaboration‐activity

7.https://hejnu.ug/new‐consortium‐aims‐to‐develop‐next‐generation‐malaria‐vaccine‐targeting‐p‐vivax/

Tác giả: Ths. Huỳnh An Khang& TS.BS. Huỳnh Hồng Quang
(Viện Sốt rét‐KST‐CT Quy Nhơn)
Chia sẻ:

Tin cùng chuyên mục

Báo cáo của Tổng giám đốc Tổ chức Y tế Thế giới: tái khẳng định cam kết đẩy nhanh tiến độ hướng tới xóa bỏ bệnh sốt rét (26.4.2026)

|

Vào tháng 5 năm 2015, Đại Hội đồng Y tế Thế giới lần thứ 68 đã thông qua nghị quyết WHA68.2 về Chiến lược kỹ thuật Toàn cầu Phòng chống…

Chuyển dịch từ các mô hình in vitro sang hướng phát triển thuốc sốt rét

|

Các hệ thống in vitro tiên tiến như organoid, các nền tảng vi sinh lý học và mô có nguồn gốc từ tế bào gốc vạn năng cảm ứng (induced…

Tương lai cuộc chiến chống sốt rét: vaccine, tiến hóa của muỗi và những thách thức toàn cầu

|

Trong nhiều thập kỷ qua, sốt rét vẫn là một thách thức y tế toàn cầu dai dẳng, đặc biệt tại các vùng nhiệt đới. Dù đã có nhiều tiến…

Thực trạng về bệnh nhiệt đới bị lãng quên trên toàn cầu năm 2025 (Phần 2‐Hết)

|

Tính đến năm 2024, có 14 quốc gia Châu Phi đã xây dựng các kế hoạch Quốc gia bền vững thông qua quy trình do chính phủ dẫn dắt và…

Thực trạng về bệnh nhiệt đới bị lãng quên trên toàn cầu năm 2025 (Phần 1)

|

Vào năm 2025, Chương trình Toàn cầu về các Bệnh Nhiệt đới bị lãng quên (Neglected Tropical Diseases_NTDs) của Tổ chức Y tế Thế giới (TCYTTG) đánh dấu cột mốc…

Đồng thuận quốc tế năm 2025 về quản lý bệnh viêm ruột kích thích ở phụ nữ mang thai

|

Phụ nữ mang thai mắc viêm ruột kích thích (Inflammatory Bowel Diseases_IBDs) là một loại bệnh lý trên nhóm cơ địa đặc biệt, vì dữ liệu thử nghiệm lâm sàng…

Tiếp theo Phần 2‐ Tình hình bệnh ký sinh trùng trong bối cảnh biến đổi khí hậu (Phần 3‐Hết)

|

Biến đổi khí hậu toàn cầu là một mối đe dọa nghiêm trọng đối với môi trường vì nó ảnh hưởng đến các tương tác giữa các sinh vật, chẳng…

Tiếp theo Phần 1‐ Tình hình bệnh ký sinh trùng trong bối cảnh biến đổi khí hậu (Phần 2)

|

Các nghiên cứu gần đây ở Đông Nam Á, Châu Phi và Châu Mỹ Latinh đã chứng minh những tác động đáng kể của biến đổi khí hậu đối với…

Ảnh đại diện

Tình hình bệnh ký sinh trùng trong bối cảnh biến đổi khí hậu (Phần 1‐còn nữa)

|

Biến đổi khí hậu là một phần bình thường của hệ sinh thái trái đất. Tuy nhiên, chúng ta hiện đang trải qua một sự thay đổi do con người…

Xét nghiệm chẩn đoán nhanh một số bệnh truyền nhiễm (Tiếp theo và hết)

|

Các viện nghiên cứu hoặc cơ sở y tế không thể sử dụng liên tục cùng một loại xét nghiệm từ một nhà sản xuất khiến cho việc diễn giải…