Chào mừng bạn đến với website Viện Sốt rét-KST-CT Quy Nhơn

  DANH MỤC

  Liên kết website

  Bản đồ

  Thống kế truy cập

Đang online: 6
Hôm nay: 2
Hôm qua: 2
Tuần này: 471
7 ngày trước: 476
Tháng này: 1004
30 ngày trước: 1020

Những ký ức tương tự xếp chồng để tăng khoảng trống cho não bộ

Ngày 8/7/2014. BBC News ‐ Những ký ức tương tự xếp chồng để “tăng khoảng trống” cho não bộ. Theo một nghiên cứu mới đây thì những ký ức tương tự nhau được xếp chồng lên nhau một cách tự nhiên trong não bộ và nếu như khu vực não bộ chịu ảnh hưởng có kích thước lớn hơn sẽ tạo ra ít sự nhầm lẫn hơn cho con người.

Những ký ức tương tự xếp chồng để “tăng khoảng trống” cho não bộ (Similar memories benefit from ‘extra space’ in brain). Theo một nghiên cứu mới đây thì những ký ức tương tự nhau được xếp chồng lên nhau một cách tự nhiên trong não bộ và nếu như khu vực não bộ chịu ảnh hưởng có kích thước lớn hơn sẽ tạo ra ít sự nhầm lẫn hơn cho con người.

Trong một nghiên cứu xuất bản trên Tạp chí PNAS, các nhà khoa học đã quét não bộ của 15 người hồi tưởng lại 4 cảnh tượng tương tự nhau, họ quan sát những tuyến đường trí nhớ xếp chồng lên nhau trong một góc cụ thể của hồi hải mã (hippocampus) gọi là “CA3”, một khu vực ghi nhớ đã được biết đến. Nếu CA3 của người nào lớn hơn, các đối tượng đó sẽ ít bị nhầm lẫn hơn và có ít sự chồng chéo trong các tuyến đường này. Phần lớn chúng ta lưu trữ nhiều ký ức tương tự nhau, liên quan đến những nơi mà dành nhiều thời gian nhất và những người chúng ta biết rõ nhất, thông thường có thể phân biệt được họ/chúng và đặc biệt một số người trong chúng ta có thể làm điều này tốt hơn những người khác.

TS. Martin Chadwick, Trung tâm chẩn đoán hình ảnh não bộ (Centre for Neuroimaging) Wellcome Trust tại Đại Học London (UCL) cho biết: “Khu vực CA3 rộng hơn có thể chứa nhiều nơ‐ron hoặc nhiều kết nối giữa các nơ‐ron hơn, điều này tạo điều kiện tốt hơn cho việc phân tách các tuyến đường trí nhớ khác nhau”. Khu vực CA3 được cho là khu vực xử lý mỗi ký ức bằng cách sử dụng những bộ tế bào não riêng biệt, tuy nhiên những phát hiện này gợi ra rằng khi hai đoạn ký ức có nội dung tương tự nhau, thực tế chúng sẽ được “nhớ lại” (remembered) qua các hệ thồng xếp chồng tự nhiên và có thể tiết kiệm được nhiều không gian hơnnữa. GS Eleanor Maguire, tác giả chính của nghiên cứu từ Trung tâm chẩn đoán hình ảnh não bộ Wellcome Trust tại Đại Học London (ULC) cho biết: “Các kết quả nghiên cứu có thể giúp giải thích vì sao đôi khi chúng ta cảm thấy khó khăn trong việc phân biệt những ký ức tương tự nhau trong quá khứ và vì sao một số người lại rất giỏi làm việc này so với những người khác”.

15 đối tượng nghiên cứu đã xem những bộ phim ngắn của chúng tôi trong đó có hai hành động khác nhau xảy ra ở mỗi hai nơi khác nhau, sau đó họ sẽ được yêu cầu nhớ lại mỗi hành động, trong 20 lần, bên trong 1 máy quét não. Qua những hình ảnh từ máy quét, họ đã nhận thấy hoạt động ký ức khác nhau trong vùng CA3 nhưng không phải là 3 ngăn khác của hồi hải mã mà chính là 4 tuyến đường trí nhớ khác nhau đã cho thấy sự xếp chồng đáng kể. Hơn nữa, ở những người nói rằng họ bị lẫn lộn bởi sự tương đồng giữa 4 ký ức kia có sự xếp chồng rõ ràng hơn. Quá trình quét kết hợp fMRI (cộng hưởng từ chức năng) với các phép đo cấu trúc từng bộ não vì vậy cùng với việc trích xuất dữ liệu các hoạt động não bộ, nhóm nghiên cứu có thể đo đạc kích thước chính xác vùng CA3 của mỗi người. Đó là cách thức họ phát hiện kích thước của vùng này, liên quan đến phần còn lại của hồi hải mã, ảnh hưởng đến cả hai yếu tố số lượng xếp chồng trong các tuyến đường và mức độ nhầm lẫn của con người

TS. Martin Chadwick, người đã tiến hành các thí nghiệm trả lời BBC News rằng: “Vùng CA3 lớn hơn có thể chứa nhiều nơ‐ron hoặc nhiều kết nối giữa các nơ‐ron hơn tạo điều kiện tốt hơn cho việc phân tách vật lý các tuyến đường trí nhớ khác nhau”. Mặc dù kích thước tổng thể não bộ không liên quan đến những năng lực trí óc của từng cá nhân (não của Einstein có kích thước nhỏ ơn trung bình) nhưng phạm vi tương đối của những thành phần khác nhau có liên quan đến những đặc điểm khác nhau.

Những tế bào xử lý mỗi ký ức trong hồi hải mã có thể xếp chồng.

Một nghiên cứu trước đó do GS. Maguire đã chỉ ra rằng vì các tài xế taxi ở London cải thiện bản đồ đường đi trong đầu và năng lực định hướng mạnh mẽ, trung bình họ phát triển một hồi hải mã lớn hơn phần lớn chúng ta. TS. Hugo Spiers, một giảng viên sinh học thần kinh tại UCL, người không hề tham gia vào nghiên cứu, miêu tả nghiên cứu mới như là một điều “cực kỳ hữu dụng” (really useful) cùng với nghiên cứu trước đó kia. Ông trả lời BBC: “Hồi hải mã chiếm khá lớn trong não bộ, điều mà họ vừa phát hiện ra là một mảnh nhỏ đặc biệt bên trong nó, CA3, là một phần cực kỳ thú vị của bộ não lớn hơn ở một số người nhất định”. “Nghiên cứu các tài xế taxi là về kích thước tổng cộng có liên quan đến việc định hướng trong một thành phố lớn nhưng việc đó rất khác với việc ghi nhớ mỗi điều mà bạn nói trong một cuộc cãi lộn với bạn đời một ngày nào đó. Phần lớn chúng ta đều rất dở chuyện đó‐nó thường kết thúc với câu nói: “Em đã nói là như thế này” ‘Không, anh đã nói là thế kia’‐đó có thể là kích thước của vùng CA3 ảnh hưởng đến việc ai sẽ thằng cuộc cãi lộn đó”!

Vùng CA3 là một vùng đặc biệt vì nó lan rộng các kết nối tới các khu vực khác trong não đang được hộ tống bởi số lượng lớn các quan hệ nối liền bên trong bản thân CA3. TS. Spiers giải thích điều này đã làm nổi bật nó nhiều năm trước như là một yếu tố hữu ích tiềm tang cho việc lưu trữ và truy tìm ký ức: “Bạn muốn thứ gì đó để kết nối lại với chính nó rất nhiều để giúp bạn truy tìm lại những ký ức đã được lưu một cách nhanh chóng nhưng nó có giới hạn riêng của nó”, ông nói: “Từ nghiên cứu mới này, chúng tôi có sự am hiểu rõ ràng hơn về việc mảnh nhỏ cực kỳ quan trọng trong mạng điện ký ức này đang làm gì”.

Tác giả: CN Nguyễn Thái Hoàng, CN. Huỳnh Thị An Khang
(Theo BBC News)
Chia sẻ:

Tin cùng chuyên mục

Cập nhật các thuật ngữ liên quan lĩnh vực sốt rét của Tổ chức Y tế Thế giới 2025 (ấn bản lần thứ 3)

Trong những năm gần đây, đã có sự gia tăng mạnh mẽ các thuật ngữ mới liên quan đến bệnh sốt rét trong các tài liệu khoa học, phương tiện…

Phê duyệt khía cạnh đạo đức y sinh trong chăm sóc và sử dụng động vật trong nghiên cứu (Phần 2‐Hết)

Hội đồng Đạo đức về Chăm sóc và Sử dụng động vật phải có cách khắc phục các vấn đề trong chăm sóc động vật, bao gồm đối xử công…

Phê duyệt khía cạnh đạo đức y sinh trong chăm sóc và sử dụng động vật trong nghiên cứu (Phần 1)

Hội đồng Đạo đức trong Chăm sóc và Sử dụng Động vật (Institutional Animal Care and Use Committees‐ ACUCs) trong nghiên cứu và thực nghiệm mô hình có vai trò…

Vai trò ivermectin như một công cụ phòng chống sốt rét bổ sung để làm giảm tỷ lệ mắc sốt rét

Việc giảm số ca sốt rét trên lâm sàng lệ thuộc nhiều vào khả năng ngăn ngừa muỗi Anopheles nhiễm mầm bệnh đốt người. Các chiến lược phòng chống vector…

Giới thiệu tạp chí, sách, ấn phẩm liên quan đến lĩnh vực thuốc điều trị sốt rét

Hiện tại trên thế giới có sẵn hơn 700 loại báo cáo, tạp chí và hơn 1000 hội thảo Quốc tế có liên quan đến sốt rét, hơn 300 hôị thảo…

Hành trình khám phá khoa học về lĩnh vực sốt rét (Phần 3)

Năm 1881, khi nghe về phát hiện “Bacillus malariae” của Klebs và Tommasi‐Crudeli, ông đã cố gắng một lần nữa nhưng chưa thể phân lập được vi khuẩn từ máu…

Hành trình khám phá khoa học về lĩnh vực sốt rét (Phần 2)

Vào ngày 06.11.1880, khi đang kiểm tra một mẫu máu tươi được lấy từ một bệnh nhân mới nhập viện, một vật thể chuyển động trên lam máu đã lọt…

Hành trình khám phá khoa học về lĩnh vực sốt rét (Phần 1)

Sốt rét luôn là đề tài nghiên cứu của các nhà y học từ xa xưa. Nhiều văn bản cổ xưa, đặc biệt là văn bản y học, đề cập…

Cập nhật sốt chưa rõ nguyên nhân: một vấn đề quan trọng trong chuyên ngành truyền nhiễm‐ký sinh trùng (Fever of unknown origin: An important in the parasitic and infectious diseases)

Sốt chưa rõ nguyên nhân (Fever of unknown origin_FUO) có nguồn gốc thuật ngữ từ năm 1961 do tác giả Petersdorf và Beeson đặt ra như một tình trạng bệnh…

Một số thuật ngữ y học Anh Việt liên quan đến y tế

Thuật ngữ y khoa hay trong lĩnh vực y tế sức khỏe nói chung là một trong những khía cạnh quan trọng cho người hành nghề y dược và thực…