Chào mừng bạn đến với website Viện Sốt rét-KST-CT Quy Nhơn

  DANH MỤC

  Liên kết website

  Bản đồ

  Thống kế truy cập

Đang online: 5
Hôm nay: 38
Hôm qua: 67
Tuần này: 299
7 ngày trước: 322
Tháng này: 1224
30 ngày trước: 1225

Muỗi sốt rét thay đổi tập tính đốt người ở Châu Phi

Ngày nay, sốt rét vẫn còn là một trong những vấn đề sức khỏe y tế công cộng toàn cầu chính hoặc quan trọng, dẫn đến hơn 1 triệu người chết mỗi năm, với hơn 90 số ca chết và 60% ca mắc bệnh xảy ra tại châu Phi, khu vực phía nam sa mạc Sahara, châu Phi. Bệnh sốt rét do ký sinh trùng sốt rét loài Plasmodium spp. gây ra và do muỗi Anopheles truyền bệnh.

Muỗi sốt rét thay đổi tập tính đốt người ở châu Phi

Ngày nay, sốt rét vẫn còn là một trong những vấn đề sức khỏe y tế công cộng toàn cầu chính hoặc quan trọng, dẫn đến hơn 1 triệu người chết mỗi năm, với hơn 90 số ca chết và 60% ca mắc bệnh xảy ra tại châu Phi, khu vực phía nam sa mạc Sahara, châu Phi. Bệnh sốt rét do ký sinh trùng sốt rét loài Plasmodium spp. gây ra và do muỗi Anopheles truyền bệnh. Có 4chủng ký sinh trùng sốt rét lây nhiễm ở người, đó là P. falciparum, P. vivax, P. malariae và P. ovale. Trong đó P. falciparum và P. vivax hai loài gây bệnh phổ biến ở người tại khắp các châu lục, trong đó P. falciparum gây ra hầu hết các ca sốt rét ác tính và tử vong trên thế giới. Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO, 2013) những năm gần đây, một vài trường hợp mắc sốt rét ở người cũng xảy ra với ký sinh trùng vốn dĩ truyền bệnh cho khỉ nay lại gây bệnh trên người, đó là loài P. knowlesi ‐ một loài ký sinh trùng gây bệnh ở khỉ trước đây và xảy ra ở một số quốc gia khu vực rừng Đông Nam châu Á.

Trên thế giới có hơn 400 loài muỗi Anopheles khác nhau, nhưng chỉ có khoảng hơn 60 loài là vật chủ trung gian truyền bệnh sốt rét trong điều kiện tự nhiên tại các vùng bệnh lưu hành trên khắp thế giới, trong đó 30 loài có tầm quan trọng lớn. Mỗi loài có một kiểu hình tập tính khác nhau. Những loài có khả năng truyền bệnh cao như loài An. gambiae sensu stricto, An. arabiensis và An. funestus chiếm ưu thế ở châu Phi cận sa mạc Sahara. Những loài có khả năng truyền bệnh thấp hơn như An. stephensi ở vùng thành thị. Ở các nước châu Á, thì loài An. minimus, An. dirus chiếm ưu thế như các loài vector chính ở các vùng sốt rét lưu hành.

Trong thập niên qua thế giới đã thành công trong việc kiểm soát bệnh sốt rét làm giảm tỷ lệ mắc và tỷ lệ tử vong đáng kể. Sự thành công trong việc kiểm soát bệnh sốt rét trên toàn cầu, một phần rất quan trọng không thể không kể đến là việc chúng ta đã kiểm soát được muỗi Anopheles. Do vậy, việc giám sát và phòng chống véc tơ là một trong các biện pháp có thể được xem tốt nhất để giảm lan truyền bệnh sốt rét trong cộng đồng.

Trong chương trình kiểm soát muỗi truyền bệnh sốt rét trên toàn cầu với hai hình thức kiểm soát véc tơ hiệu quả nhất là sử dụng hóa chất diệt côn trùng để tẩm màn và phun tồn lưu trong nhà, nhờ hai biện pháp này mà chúng đã cứu sống hàng triệu người trên thế giới mỗi năm.

Tuy nhiên việc sử dụng hóa chất tẩm màn và phun tồn lưu trên tường vách trong thời gian dài đã tác động mạnh đến quần thể muỗi Anopheles, làm cho quần thể muỗi có thể thay đổi một số tập tính sinh học và tăng sức chịu đựng hoặc đề kháng muỗi. Chính điều này sẽ đe dọa những thành quả đã đạt được trong công tác phòng chống sốt rét trên toàn cầu trong những thập niên qua và làm cho hàng triệu người có nguy cơ mắc sốt rét cao.

Một công trình nghiên cứu mới đây đã tìm thấy, hai ngôi làng ở châu Phi sử dụng màn tẩm hóa chất để chống muỗi nhằm phòng chống bệnh sốt rét, thì muỗi ở hai địa phương này dường như đã thay đổi tập tính thói quen đốt người. Màn tẩm hóa chất diệt côn trùng được xem là một vũ khí quan trọng trong cuộc chiến toàn cầu chống lại bệnh sốt rét. Trong nghiên cứu mới, các nhà khoa học Pháp tập trung vào tập tính của muỗi trước và sau khi các hộ gia đình của hai ngôi làng ở châu Phi này sử dụng màn tẩm hóa chất diệt côn trùng.

Các nhà nghiên cứu đã phát hiện ra rằng, muỗi dường như đã thay đổi “giờ hoạt động cao điểm” từ 2 giờ sáng hoặc 3 giờ sáng đến khoảng 5 giờ sáng trong vòng ba năm sau khi sử dụng màn tẩm hóa chất được triển khai. Trong số đó, một ngôi làng có tỷ lệ muỗi đốt ngoài nhà gia tăng, kết quả chi tiết được đăng trực tuyến trên tạp chí các bệnh truyền nhiễm (Journal of infectious diseases). Cụ thể muỗi đốt ngoài nhà trước khi sử dụng màn tẩm hóa chất chiếm 45% nhưng sau một năm tỷ lệ này tăng lên 68% và sau ba năm là 61%.

Nhà nghiên cứu cao cấp Vincent Corbel, Montpellier, France ‐ Viện Nghiên cứu Phát triển, cho biết: Phát hiện này là “rất đáng lo ngại và báo động, nhất là khi người dân trong làng thường thức dậy sớm trước bình minh để lao động sản xuất trong các màu vụ và như vậy người dân sẽ không được bảo vệ bởi màn chống muỗi đốt”. Tuy nhiên, kết quả hiện ra từ hai ngôi làng trong một quốc gia là Benin cho nên “Chúng ta không thể ngoại suy đến một khu vực địa lý rộng lớn hơn hoặc quy kết ra các loài muỗi truyền bệnh khác nhau ở các vùng khác nhau”, Corbel cho biết thêm.

Những điều gì đã được thực hiện trong nghiên cứu?

Thomas Eisele ‐ một nhà nghiên cứu bệnh sốt rét tại Trường Đại học Y tế công cộng và Y học nhiệt đới Tulane ở New Orleans không liên quan vào công trình nghiên cứu này cho biết, kết quả nghiên cứu này nên được phiên giải một cách thận trọng một cách thận trọng vì lý do là rất khó khăn để có được các biện pháp đáng tin cậy về “tập tính đốt người” qua thời gian,

Trong nghiên cứu này, nhóm nghiên cứu của Corbel sử dụng cách chuẩn để đánh giá hoạt động của muỗi ‐ “bắt khi muỗi đậu lên da người” (“human landing catch”) ‐ có nghĩa là một nhà điều tra muỗi cho phép muỗi đậu trên da, sau đó bắt nó. Các nhà nghiên cứu đã điều tra thu thập muỗi ở ba giai đoạn khác nhau (trong nhà và ngoài trời) tại mỗi làng, cụ thể điều tra lần 1 được tiến hành trước khi màn tẩm hóa chất được đưa đến cho tất cả các hộ gia đình, lần 2 sau một năm và lần 3 sau ba năm.

Eisele cho biết, “Các chỉ số thu thập khi điều tra muỗi là tập tính/ hành vi đốt người có thể có nhiều yếu tố ảnh hưởng vào, nên chúng ta rất khó khăn để thực hiện chính xác cách thức giống nhau qua 3 lần lập lại điều tra”. Ông cho biết thêm, điều quan trọng nhất “nghiên cứu này được tiến hành trong một vài năm, do vậy có thể không đủ khả năng để phát hiện những thay đổi về mặt tiến hóa trong hành vi đốt mồi trong cùng một loài Anopheles“. Muỗi được nghiên cứu là loài Anopheles funestus, một trong hai vectơ sốt rét chính ở châu Phi.

Màn chống muỗi được sử dụng để bảo vệ tránh sốt rét

Corbel cho biết, màn tẩm hóa chất chống muỗi đốt từ lâu đã được tín nhiệm và góp phần đáng kể vào sự giảm một lượng lớn ca tử vong do sốt rét. Một báo cáo có sự phối hợp Cochrane Collaboration ước tính, cứ mỗi 1.000 trẻ em được bảo vệ bởi màn tẩm hóa chất diệt côn trùng, thì có từ 5 ‐ 6 em được cứu sống mỗi năm. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, các trường hợp mắc bệnh sốt rét đã bắt đầu gia tăng trở lại ở một số nước châu Phi, Corbel chỉ ra vấn đề này.

Các chuyên gia đã tập trung và quan tâm chủ yếu về muỗi phát triển kháng hóa chất diệt côn trùng được sử dụng để tẩm màn và phun tồn lưu trong nhà. Đầu năm nay, Tổ chức Y tế thế giới cho biết muỗi kháng hóa chất đã được phát hiện ở ít nhất 64 quốc gia. WHO cũng đã đưa ra một kế hoạch nói rằng mỗi quốc gia có nguy cơ phải phân tích mức độ kháng hóa chất và thiết kế một chiến lược “phòng ngừa” quy mô hơn, thay vì chờ đợi cho khả năng kháng gia tăng. Corbel cho biết những phát hiện hiện tại là thách thức mang tính “giáo điều” rằng ‐ muỗi truyền bệnh sốt rét ở châu Phi đốt hoàn toàn vào ban đêm.

“Màn tẩm hóa chất tồn lưu lâu (Long‐lasting insecticidal nets) đã được phát triển để bảo vệ con người vào ban đêm khi họ đang ngủ”, Corbel. Nhưng nếu muỗi chuyển hình thái sang đốt người buổi sáng sớm và ngoài trời thì những màn tẩm hóa chất không có đủ khả năng bảo vệ và kiểm soát muỗi sốt rét nữa, ông nói. Ông cho rằng cần có nhiều nghiên cứu hơn nữa để từ đó tìm ra những biện pháp hiệu quả nhất để kiểm soát sự thay đổi hành vi của côn trùng.

Tác giả: Ths. Bs. Huỳnh Hồng Quang và Ths. Đỗ Văn Nguyên
Chia sẻ:

Tin cùng chuyên mục

Cập nhật về hệ gen muỗi Anopheles spp. đóng góp cho lộ trình ​tiến tới loại trừ sốt rét trên toàn cầu (Phần 2)

|

Nhìn chung, đa dạng sinh học cao là một chỉ báo về hệ sinh thái khỏe mạnh và môi trường ổn định (Ủy ban Châu Âu, 2019). Điều này liên…

Cập nhật về hệ gen muỗi Anopheles spp. đóng góp cho lộ trình tiến tới loại trừ sốt rét trên toàn cầu (Phần 3‐Hết)

|

Đến nay, chỉ có các thử nghiệm thực địa được thực hiện trong đó các sinh vật biến đổi gen được kiểm soát về mặt vật lý hoặc sinh thái.…

Cập nhật về hệ gen muỗi Anopheles spp. đóng góp cho lộ trình ​tiến tới loại trừ sốt rét trên toàn cầu (Phần 1)

|

Bệnh sốt rét là mối đe dọa nghiêm trọng đối với sức khỏe cộng đồng trên toàn thế giới. Theo Báo cáo về sốt rét của Tổ chức Y tế…

Cập nhật thông tin về đường lan truyền và gánh nặng của một số bệnh do ngoại ký sinh trên thế giới (còn nữa)

|

Theo đánh giá của Tổ chức Y tế Thế giới (TCYTTG),các bệnh do véc tơ truyền (VBDs‐Vector Bornes Diseases) chiếm hơn 17% trong số các bệnh truyền nhiễm và là…

Phần 3. Tăng cường kiểm soát véc tơ: nhận diện và đếm trứng muỗi Aedes albopictus (Diptera: Culicidae) dựa trên trí tuệ nhân tạo (tiếp theo và hết)

|

KẾT QUẢ Tập huấn mô hình Sau 20 epoch huấn luyện, tốc độ học của mô hình giảm từ 0.005 xuống 0.000006 (Hình 5A), với sự suy giảm sau mỗi…

Phần 2. Tăng cường kiểm soát véc tơ: nhận diện và đếm trứng muỗi Aedes albopictus (Diptera: Culicidae) dựa trên trí tuệ nhân tạo (tiếp theo Phần 1)

|

QUY TRÌNH THÍ NGHIỆM Thu thập trứng muỗi Aedes albopictus Ovitrap là một hộp nhựa có dung tích khoảng 200 ml và được trang bị nắp đen có lỗ.…

Phần 1. Tăng cường kiểm soát véc tơ: nhận diện và đếm trứng muỗi Aedes albopictus (Diptera: Culicidae) dựa trên trí tuệ nhân tạo (còn nữa)

|

Kết quả: Thực nghiệm cho thấy khả năng nhận diện vượt trội của mô hình, với độ chính xác đạt 0.977, độ nhạy đạt 0.978, và điểm F1 là 0.977.…

Véc tơ và phân bố các véc tơ theo từng quốc gia trong khu vực Đông và Nam Á

Tổ chức Y tế thế giới (TCYTTG) phân chia các quốc gia trên toàn cầu thành 6 khu vực, trong đó khu vực Đông và Nam Á có 11 thành…

Cập nhật viêm dạ dày ruột tăng bạch cầu ái toan‐Phần 2: Viêm dạ dày ruột tăng bạch cầu ái toan ‐ Chẩn đoán & Quản lý

Trước hết, nhiều tổng kết về các căn bệnh này cho thấy khi BCAT nhiều sẽ gây thương tổn và kích thích dạ dày ruột. EoG ảnh hưởng lên tất…

Cập nhật thông tin các bệnh do véc tơ truyền tháng 9 năm 2024 của Tổ chức Y tế Thế giới

|

Theo đánh giá của Tổ chức Y tế Thế giới,các bệnh do véc tơ truyền chiếm hơn 17% trong số các bệnh truyền nhiễm và là nguyên nhân gây ra…