Bệnh thừa sắt là một rối loạn của dự trữ sắt dẫn đến tăng hấp thu sắt ở ruột, gây lắng đọng sắt vào nhiều mô và cơ quan, từ đó gây tổn thương nhiều mô ‐ cơ quan. Biểu hiện lâm sàng kinh điển của bệnh thừa sắt khi đến mức quá ngưỡng là bệnh nhân có làn da màu đồng, bệnh gan, tiểu đường, bệnh khớp, rối loạn dẫn truyền cơ tim và thiểu năng tình trạng sinh dục. Thừa sắt là tình trạng bệnh lý nghiêm trọng của cơ thể vì gây ra những tổn thương ở đường tiêu hóa, gan, gia tăng hàm lượng sắt cục bộ và tăng sinh gốc tự do.
MỞ ĐẦU
Bệnh thừa sắt là một rối loạn của dự trữ sắt dẫn đến tăng hấp thu sắt ở ruột, gây lắng đọng sắt vào nhiều mô và cơ quan, từ đó gây tổn thương nhiều mô ‐ cơ quan. Biểu hiện lâm sàng kinh điển của bệnh thừa sắt khi đến mức quá ngưỡng là bệnh nhân có làn da màu đồng, bệnh gan, tiểu đường, bệnh khớp, rối loạn dẫn truyền cơ tim và thiểu năng tình trạng sinh dục. Thừa sắt là tình trạng bệnh lý nghiêm trọng của cơ thể vì gây ra những tổn thương ở đường tiêu hóa, gan, gia tăng hàm lượng sắt cục bộ và tăng sinh gốc tự do.
Thừa sắt hay tình trạng quá tải sắt là hiện tượng lượng sắt trong cơ thể vượt quá mức cần thiết. Ruột của cơ thể bị mất khả năng điều hòa hàm lượng sắt không cần thiết, đồng thời bị tích tụ ở gan gây ra nhiễm sắt, cuối cùng là tổn thương đến những mô khác. Lượng sắt mà người bị thừa sắt hấp thu gấp 3 lần lượng sắt người không bị bệnh hấp thụ.
Bệnh lý này cần phân biệt hai thuật ngữ khác gồm: Quá liều sắt ‐ Overdose (khi cơ thể uống quá nhiều sắt, lớn hơn lượng cần thiết sẽ gây ra ngộ độc sắt cấp tính. Trong thực tế trường hợp quá liều sắt có thể xảy ra đối với trẻ em do uống nhầm viên bổ sung sắt và đa sinh tố của người lớn) và Quá tải sắt ‐ Overload (là nhiễm độc sắt mãn tính với nguyên nhân là do di truyền, được truyền một số lượng lớn đơn vị máu, bị bệnh viêm gan C mãn tính hoặc có thể là nghiện rượu).
NGUYÊN NHÂN DẪN ĐẾN CHỨNG THỪA SẮT
Hai nguyên nhân chính bệnh thừa sắt gồm: Thừa sắt do di truyền và thừa sắt do mắc phải.
‐Yếu tố di truyền:Người bệnh bị ngay từ lúc mới sinh ra (do đột biến gen HFE di truyền), ruột mất khả năng điều hòa sắt và sắt thừa sẽ tích tụ ở gan, tim. Để phát hiện sớm loại bệnh này, cần làm xét nghiệm đo lượng ferritin trong huyết thanh và trong mẫu bệnh phẩm sinh thiết gan.
‐Do tình trạng đột biến gen HDB Flat Eligibility (HFE) di truyền (protein điều hòa cân bằng sắt ‐ Human homeostatic iron regulator protein, còn được gọi là HFE protein (high FE2+), đây là một loại protein vận chuyển qua màng (transmembrane protein) ở người mã hóa bởi gen HFE). Đột biến gen HFE khá phổ biến trong quần thể người có nguồn gốc Bắc Âu (1/10 người mang gen). Dị hợp tử không có triệu chứng, nhưng đồng hợp tử có biểu hiện lâm sàng bệnh khoảng 25‐30%. Có tình trạng quá tải sắt tiến triển với các biểu hiện lâm sàng xuất hiện sau 30‐40 tuổi, thường xuất hiện sớm hơn ở nam nhiều hơn ở nữ;
‐Quá tải sắt thứ cấp hay mắc phải: Thường do tạo hồng cầu không hiệu quả, như trong bệnh Thalassemia hoặc thiếu máu nguyên hồng cầu. Là loại bệnh cơ hội, đi kèm với bệnh lý khác như thiếu hồng cầu, bệnh gan, bệnh liên quan đến hấp thụ sắt. Gen HFE mã hóa protein có liên quan tới cảm biến sắt tế bào, điều hòa sự hấp thụ sắt trong ruột. Bệnh gan do rượu, hấp thu Fe quá mức lâu ngày có thể kết hợp với tăng vừa phải sắt trong gan và tăng dự trữ sắt trong cơ thể.
ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG & CẬN LÂM SÀNG BỆNH THỪA SẮT
Lâm sàng
‐Triệu chứng sớm:Bệnh nhân thường biểu hiện suy nhược, mệt mỏi, giảm cân, da màu đồng hoặc sậm, đậm hơn, đau bụng không rõ nguyên nhân và mất ham muốn tình dục;
‐Đau khớp, đau bụng, các triệu chứng xuất hiện muộn hơn như mất ham muốn tình dục, tiểu đường, suy tim, triệu chứng bệnh thường xuất hiện khi tuổi lớn dần, đặc biệt trong tuổi từ 50‐ 60 tuổi đối với nam giới và sau 60 tuổi đối với nữ giới;
‐Gan lớn ở khoảng 90‐95% số bệnh nhân, đôi khi các xét nghiệm chức năng gan trong giới hạn bình thường. Nếu không được điều trị, bệnh gan tiến triển đến xơ gan, thậm chí góp phần gây ung thư biểu mô tế bào gan trong # 30% bệnh nhân bị xơ gan;
‐Biểu hiện khác bao gồm sắc tố da (màu đồng), đái tháo đường (65% bệnh nhân), bệnh khớp (25‐59%), rối loạn nhịp tim và suy tim (15%), và thiểu năng sinh dục do giảm hormon hướng sinh dục. Đái tháo đường (ĐTĐ) à phổ biến hơn bệnh nhân có tiền sử gia đình bị ĐTD và thiểu năng sinh dục có thể là biểu hiện lâm sàng sớm đơn thuần;
‐Dấu hiệu điển hình của tăng áp lực tĩnh mạch vàxơ gan mất bù có thể xuất hiện muộn trên lâm sàng. Suy thượng thận, suy giáp, suy tuyến cận giáp hiếm khi xảy ra.
Hình 1. Quá tải sắt có thể do nội tại (không hấp thu và ứ đọng sắt) hoặc ngoại lai (bổ sung quá mức)
Cận lâm sàng
‐Xét nghiệm sắt huyết thanh, phần trăm transferrin bão hòa, nồng độ ferritin huyết thanh tăng;
‐Trên một người khỏe mạnh, nồng độ transferrin bão hòa huyết thanh khi đói > 50% là bất thường và gợi ý bệnh thừa sắt đồng hợp tử. Những bệnh nhân không được điều trị bệnh thừa sắt, nồng độ ferritin huyết thanh cũng tăng lên rất nhiều;
‐Nếu một trong hai chỉ số là phần trăm transferrin bão hòa hoặc nồng độ ferritin huyết thanh bất thường, xét nghiệm các thông số đánh giá di truyền cho bệnh nhân thừa sắt;
‐Xét nghiệm Ferritin là áp dụng trong việc đo lường lượng sắt dự trữ cơ thể, từ đó đưa ra chẩn đoán và phương án hỗ trợ điều trị. Xét nghiệm Ferritin được thực hiện nhằm đo lượng sắt dưới dạng dự trữ, xem lượng sắt dự trữ trong cơ thể thừa hay thiếu hay bình thường;
‐Nếu như bệnh nhân đang mắc phải các bệnh lý có liên quan thì có thể làm xét nghiệm này để dễ theo dõi bệnh lý. Việc tạo ra phác đồ từ kết quả xét nghiệm sẽ giúp quá trình điều trị thêm chính xác và nhanh chóng ‐ đó cũng là 1 trong những ý nghĩa xét nghiệm Ferritin quan trọng;
‐Có thể chỉ định thử nghiệm Ferritin vì nhiều lý do:
- Trong chẩn đoán, khi nghi ngờ bệnh nhân thiếu sắt hoặc thừa sắt, có thể đề nghị xét nghiệm ferritin để hỗ trợ chẩn đoán bệnh lý;
- Theo dõi bệnh nếu chẩn đoán là rối loạn chất sắt trong cơ thể, bác sĩ có thể tiến hành thử nghiệm ferritin nhằm theo dõi tình trạng và hướng dẫn điều trị;
- Một số bệnh nhân biểu hiện mệt mỏi, nhức đầu chóng mặt, người xanh xao, giảm ham muốn, mất tinh thần,… thì cũng yêu cầu làm xét nghiệm này, vì trong những ca này nguy cơ lượng Ferritin trong máu khá cao;
- Sử dụng xét nghiệm trong chẩn đoán phân biệt các dạng thiếu máu khi phối hợp hàm lượng Ferritin với nồng độ sắt, khả năng gắn sắt của cơ thể;
- Nồng độ Ferritin tăng cao có thể gặp trong một số bệnh như hemochromatosis khi cơ thể tích trữ quá nhiều sắt tại mô cơ quan. Hoặc có thể gặp ở những người có tiền sử truyền máu nhiều lần, uống thuốc sắtkéo dài mà không được thải sắt, viêm gan virus mạn tính,…
‐Các yếu tố góp phần làm thay đổi kết quả xét nghiệm Ferritin
- Sau khi sử dụng các chất đồng vị phóng xạ để chụp xạ hình;
- Sau khi truyền máu;
- Nạp vào cơ thể các chất bổ sung sắt và thức ăn có chứa hàm lượng sắt cao;
- Huyết thanh có chứa nồng độ lipid cao.
‐Tất cả người thân gia đình bệnh nhân bị bệnh thừa sắt nên được kiểm tra các đột biến C282Y và H63D HFE;
‐Sinh thiết gan có thể được chỉ định khi bệnh nhân bị ảnh hưởng để đánh giá xơ gan và định lượng sắt trong nhu mô;
Sơ đồ đánh giá một bệnh nhân có thể mắc bệnh thừa sắt được trình bày trong khung dưới đây.











