Chào mừng bạn đến với website Viện Sốt rét-KST-CT Quy Nhơn

  DANH MỤC

  Liên kết website

  Bản đồ

  Thống kế truy cập

Đang online: 9
Hôm nay: 9
Hôm qua: 23
Tuần này: 495
7 ngày trước: 497
Tháng này: 988
30 ngày trước: 1041

Cần biết về các loại hóa chất diệt côn trùng truyền bệnh

Để diệt các loại côn trùng truyền bệnh, một số hóa chất đã được ngành y tế dự phòng sử sụng can thiệp nhằm mục đích làm giảm mật độ hoạt động của côn trùng. Các loại hóa chất diệt côn trùng thường sử dụng được chia thành 4 nhóm khác nhau gồm nhóm các hợp chất chlor hữu cơ, nhóm các hợp chất phosphore hữu cơ, nhóm carbamat và nhóm pyrethroid tổng hợp.

Để diệt các loại côn trùng truyền bệnh, một số hóa chất đã được ngành y tế dự phòng sử sụng can thiệp nhằm mục đích làm giảm mật độ hoạt động của côn trùng. Các loại hóa chất diệt côn trùng thường sử dụng được chia thành 4 nhóm khác nhau gồm nhóm các hợp chất chlor hữu cơ, nhóm các hợp chất phosphore hữu cơ, nhóm carbamat và nhóm pyrethroid tổng hợp. Mỗi nhóm hóa chất có nhiều loại hóa chất với các tác dụng riêng biệt mà khi sử dụng cần phải biết những tính chất đặc thù của nó.

Nhóm các hợp chất chlor hữu cơ

Trong các loại hóa chất thuộc nhóm này, DDT (Dichloro Diphenyl Trichloroethane) là loại được sử dụng khá phổ biến. Dieldrin là loại cũng thường dùng nhưng có độc tính cao với người và động vật nuôi nên không được khuyến khích sản xuất để sử dụng. Lindane được sử dụng ở những nơi côn trùng đã kháng DDT, mặc dù có độc tính cao hơn DDT nhưng có thể sử dụng một cách an toàn nếu thực hiện biện pháp thích hợp; giá thành của nó cao, kém bền vững so với DDT nên vai trò bị hạn chế.

DDT là một trong những hóa chất diệt côn trùng đầu tiên, được sử dụng rộng rãi để phun tồn lưu, có giá thành thấp, hiệu lực cao, bền vững và tương đối an toàn với người. Sự phát minh ra DDT vào khoảng năm 1940 đã góp phần thắng lợi cho công tác phòng chống bệnh sốt rét. DDT có hiệu lực tốt trong việc diệt muỗi truyền bệnh trú đậu trong nhà khi phun hóa chất trên tường vách. Nó có đặc điểm là rẻ tiền và duy trì được hiệu lực tồn lưu diệt trong nhiều tháng. Ở nhiều nước, chương trình phòng chống bệnh sốt rét đã đạt được thành quả bằng cách phun hóa chất DDT vào nhà ở của người dân với một hoặc hai lần trong năm để diệt muỗi truyền bệnh. Tuy vậy, ở một vài vùng, việc phun DDT không duy trì được lâu vì tốn kém chi phí và nhân dân từ chối hợp tác. Ngoài ra, ở một số nơi, muỗi truyền bệnh sốt rét đã tăng tính chịu đựng và kháng lại với DDT. Vấn đề này đòi hỏi phải tăng chi phí để thay thế các loại hóa chất diệt côn trùng khác đắt tiền hơn. Dù sao thì DDT vẫn là một loại hóa chất diệt côn trùng có hiệu quả ở một số nước. Việc sử dụng DDT đã gặp phải sự phản ứng của các nhà bảo vệ môi trường vì xác định DDT có hại khi sử dụng trong nông nghiệp để bảo vệ thực vật vì DDT không bị phân hủy nhanh khi phun lên hoa màu. Nó tồn tại trong đất một thời gian dài và có thể trôi vào các con sông, các nguồn nước. Động vật ăn các loại côn trùng bị ngộ độc DDT, dần dần đến lượt chúng cũng bị ngộ độc. Con người ăn rau quả hoặc các loại thực phẩm bị nhiễm DDT, hóa chất có thể tích trữ trong các mô khác nhau trong cơ thể. Vì vậy, ở hầu hết các nước, DDT đã bị cấm sử dụng. Vấn đề này đã làm hạn chế việc sử dụng DDT trong chiến lược phòng chống bệnh sốt rét, hóa chất này tương đối rẻ tiền nhưng nếu dùng để phun trên tường vách thì vẫn có hiệu quả tốt và tương đối bảo đảm an toàn đối với người cũng như môi trường.

Nhóm các hợp chất phosphore hữu cơ

Các loại hóa chất thuộc nhóm này được phát minh và sản xuất sau nhóm các hợp chất chlor hữu cơ. Sau khi xuất hiện tình trạng côn trùng kháng lại DDT, nhóm các hợp chất phosphore hữu cơ trở thành những hóa chất diệt côn trùng quan trọng. Nhóm các hợp chất phosphore hữu cơ được sử dụng phổ biến là loại malathion và fenitrothion. Mặc dù chúng đắt tiền hơn DDT nhưng hiệu lực tồn lưu lại ngắn hơn.

Malathion được xếp vào loại hóa chất ít nguy hiểm nhưng nếu người phun hóa chất không thực hiện đầy đủ các chế độ bảo hộ lao động an toàn thì có thể bị ngộ độc. Hóa chất có thể xâm nhập vào cơ thể qua đường hô hấp, đường tiêu qua hay tiếp xúc qua da sẽ làm giảm hoạt tính của men cholinesterase trong mô thần kinh. Các dấu hiệu bị ngộ độc nặng biểu hiện triệu chứng co cơ, yếu mệt và tiếp đến là các cơn co giật. Để bảo đảm an toàn, các công nhân phun malathion không làm việc quá 5 giờ một ngày và 5 ngày trong một tuần. Nếu hóa chất được bảo quản lâu ngày ở những nơi nóng, tạp chất có thể xuất hiện làm cho hóa chất càng độc hơn đối với người. Malathion là hóa chất thuộc nhóm các hợp chất phosphore hữu cơ rẻ nhất và an toàn nhất khi được sản xuất theo chỉ tiêu kỹ thuật của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), nó cũng được sử dụng phổ biến để phun tồn lưu trong chương trình phòng chống bệnh sốt rét. Tuy vậy, người dân thường không chấp nhận hóa chất này vì nó có mùi khó chịu. Hiệu lực tồn lưu diệt của hóa chất có thể kéo dài 6 tháng trên tường vách bằng gỗ hoặc tranh nhưng chỉ từ 1‐3 tháng trên bề mặt đất bùn hoặc vôi vữa vì nó có tác dụng phân hủy nhanh malathion.

Fenitrothion là hóa chất được xếp vào loại có mức nguy hiểm trung bình và độc hại với người hơn so với malathion. Người phun và người vận chyển hóa chất phải tuân thủ các biện phảp bảo vệ an toàn. Cũng tương tư như malathion, khi tiếp xúc nhiều lần với fenitrothion có thể dẫn tới giảm cholinesterase trong mô thần kinh. Người phun hóa chất cần phải được kiểm tra hoạt tính cholinesterase trong máu một cách thường xuyên, nếu mức cholinesterase giảm thấp thì phải ngừng tiếp xúc với hóa chất cho đến khi men này trở lại mức bình thường. Fenitrothion là chất độc tiếp xúc nhưng cũng có thể có tác dụng gây độc qua không khí đối với côn trùng, tác dụng này có thể kéo dài đến 2 tháng sau khi phun. Tác dụng gây độc qua không khí rất có lợi để diệt muỗi truyền bệnh đốt người ở trong nhà nhưng không có tập tính trú đậu trong nhà. Fenitrothion thường có tác dụng diệt côn trùng đã kháng với malathion. Hiệu lực diệt tồn lưu có thể kéo dài khoảng 2 tháng rưỡi trên các tường vách bằng gỗ và khoảng chừng 1‐2 tháng đối với bề mặt bằng bùn đất.

(ảnh st)

Nhóm carbamat

Nhóm hóa chất này phổ biến là loại propoxur và loại bendiocarb, được xếp vào nhóm hóa chất có mức nguy hiểm trung bình.

Propoxur nếu bị hấp thu vào cơ thể thì hoạt tính cholinesterase bị giảm nhưng nhanh chóng được phục hồi lại mức bình thường khi ngừng tiếp xúc. Hóa chất tương đối độc với cá, chim, o­ng, vật nuôi và các động vật hoang dại. Propoxur có tác dụng qua không khí ở trong nhà và khu vực ở ngoài nhà trong khoảng thời gian 2 tháng sau khi phun. Propoxur được sử dụng ở những nơi côn trùng đã kháng lại với các hóa chất diệt thuộc nhóm các hợp chất chlor hữu cơ và phosphore hữu cơ, hóa chất có tác dụng tồn lưu diệt khoảng từ 2‐3 tháng.

Bendiocarb nhanh chóng bị đồng hóa sau khi được hấp thu vào cơ thể, sản phẩm đồng hóa được thải ra ngoài cơ thể hoàn toàn trong vòng 24 giờ. Bendiocarb ức chế men cholinesterase nhưng phục hồi nhanh chóng sau khi ngừng tiếp xúc. Nếu thực hiện đúng các biện pháp bảo đảm an toàn khi sử dụng hóa chất, bendiocarb ít độc hại đối với người phun, người ở trong nhà được phun, động vật nuôi, riêng vịt thì đặc biệt rất nhạy cảm với hóa chất này. Hiệu lực tồn lưu diệt của hóa chất khoảng từ 2‐3 tháng.

Nhóm pyrethroid tổng hợp

Đây là nhóm hóa chất diệt côn trùng được dùng khá phổ biến hiện nay. Nhóm này bao gồm những hóa chất diệt mới được phát minh và sản xuất, đã được thử nghiệm có tác dụng hiệu quả như các loại permethrin, deltamethrin, lambdacyhalothrin, cypermethrin và cyfluthrin. Hóa chất được sử dụng ở những nơi côn trùng đã kháng lại với các nhóm hóa chất diệt đã nêu ở phần trên. Nhóm hóa chất pyrethroid tổng hợp được xếp vào loại có mức nguy hiểm trung bình, trong điều kiện sử dụng bình thường nó bảo đảm an toàn cho người thực hiện biện pháp và người ở trong nhà được can thiệp hóa chất để phòng chống côn trùng truyền bệnh.

Permethrin có các dạng bột và dịch nhũ tương tan nhanh trong nước, có thể dùng để phun tồn lưu trên tường vách, phun sương hoặc tẩm vào màn ngủ. Hiệu lực tồn lưu diệt có tác dụng khoảng từ 2‐3 tháng.

Deltamethrin cũng có dạng bột và nhũ tương tan trong nước. Nó có hiệu lực tác dụng từ 2‐3 tháng trên tường vách bằng đất bùn và tranh, trên các bề mặt làm bằng các nguyên liệu khác có thể có tác dụng diệt tồn lưu kéo dài tới 9 tháng.

Lambdacyhalothrin tương tự cũng có dạng bột và nhũ tương tan trong nước. Tên thương mại của loại hóa chất này đang được sử dụng mang nhãn hiệu Icon 10WP dùng để phun tồn lưu trên tường vách và Icon 2,5CS dùng để tẩm vào màn ngủ. Tác dụng tồn lưu diệt có thể kéo dài từ 4‐6 tháng.

Alpha‐Cypermethrin có dạng dịch nhũ tương. Tên thương mại đang được sử dụng mang nhãn hiệu Fendona 10SC. Hóa chất này được sử dụng rất thuận tiện vì vừa có thể dùng để phun tồn lưu trên tường vách, vừa có thể tẩm vào màn ngủ. Hiệu lực diệt tồn lưu có tác dụng trên 4 tháng hoặc lâu hơn.

Phun tồn lưu hoá chất diệt muỗi lên tường vách. (ảnh st)

Hiện nay Dự án Quốc gia Phòng chống Sốt rét của Việt Nam đang sử dụng các loại hóa chất diệt muỗi truyền bệnh phổ biến thuộc nhóm pyrethroid tổng hợp là Icon 10WP dùng phun tồn lưu, Icon 2,5CS dùng tẩm màn ngủ; Fendona 10SC dùng để vừa phun tồn lưu, vừa có thể tẩm màn ngủ tùy theo điều kiện từng địa phương. Tác dụng hiệu lực của các loại hóa chất này đã được xác định trên nghiên cứu thực nghiệm. Trên thực tế, hiệu quả của biện pháp can thiệp hóa chất diệt côn trùng truyền bệnh còn tùy thuộc vào chất lượng kỹ thuật pha hóa chất, kỹ thuật phun tồn lưu hoặc tẩm màn ngủ bằng hóa chất, mức độ bảo quản bảo vệ hóa chất sau khi được phun, tẩm … Để thực hiện được mục tiêu làm giảm số người bị mắc bệnh sốt rét hàng năm, biện pháp can thiệp bằng hóa chất diệt muỗi truyền bệnh đã đóng góp một phần rất lớn vào mục tiêu này với sự tham gia, hưởng ứng tích cực của cộng đồng người dân.



Tác giả: TTƯT.BS. Nguyễn Võ Hinh
Giám đốc Trung tâm PCSR‐KST‐CT Thừa Thiên Huế
Chia sẻ:

Tin cùng chuyên mục

Cập nhật về hệ gen muỗi Anopheles spp. đóng góp cho lộ trình ​tiến tới loại trừ sốt rét trên toàn cầu (Phần 2)

|

Nhìn chung, đa dạng sinh học cao là một chỉ báo về hệ sinh thái khỏe mạnh và môi trường ổn định (Ủy ban Châu Âu, 2019). Điều này liên…

Cập nhật về hệ gen muỗi Anopheles spp. đóng góp cho lộ trình tiến tới loại trừ sốt rét trên toàn cầu (Phần 3‐Hết)

|

Đến nay, chỉ có các thử nghiệm thực địa được thực hiện trong đó các sinh vật biến đổi gen được kiểm soát về mặt vật lý hoặc sinh thái.…

Cập nhật về hệ gen muỗi Anopheles spp. đóng góp cho lộ trình ​tiến tới loại trừ sốt rét trên toàn cầu (Phần 1)

|

Bệnh sốt rét là mối đe dọa nghiêm trọng đối với sức khỏe cộng đồng trên toàn thế giới. Theo Báo cáo về sốt rét của Tổ chức Y tế…

Cập nhật thông tin về đường lan truyền và gánh nặng của một số bệnh do ngoại ký sinh trên thế giới (còn nữa)

|

Theo đánh giá của Tổ chức Y tế Thế giới (TCYTTG),các bệnh do véc tơ truyền (VBDs‐Vector Bornes Diseases) chiếm hơn 17% trong số các bệnh truyền nhiễm và là…

Phần 3. Tăng cường kiểm soát véc tơ: nhận diện và đếm trứng muỗi Aedes albopictus (Diptera: Culicidae) dựa trên trí tuệ nhân tạo (tiếp theo và hết)

|

KẾT QUẢ Tập huấn mô hình Sau 20 epoch huấn luyện, tốc độ học của mô hình giảm từ 0.005 xuống 0.000006 (Hình 5A), với sự suy giảm sau mỗi…

Phần 2. Tăng cường kiểm soát véc tơ: nhận diện và đếm trứng muỗi Aedes albopictus (Diptera: Culicidae) dựa trên trí tuệ nhân tạo (tiếp theo Phần 1)

|

QUY TRÌNH THÍ NGHIỆM Thu thập trứng muỗi Aedes albopictus Ovitrap là một hộp nhựa có dung tích khoảng 200 ml và được trang bị nắp đen có lỗ.…

Phần 1. Tăng cường kiểm soát véc tơ: nhận diện và đếm trứng muỗi Aedes albopictus (Diptera: Culicidae) dựa trên trí tuệ nhân tạo (còn nữa)

|

Kết quả: Thực nghiệm cho thấy khả năng nhận diện vượt trội của mô hình, với độ chính xác đạt 0.977, độ nhạy đạt 0.978, và điểm F1 là 0.977.…

Véc tơ và phân bố các véc tơ theo từng quốc gia trong khu vực Đông và Nam Á

Tổ chức Y tế thế giới (TCYTTG) phân chia các quốc gia trên toàn cầu thành 6 khu vực, trong đó khu vực Đông và Nam Á có 11 thành…

Cập nhật viêm dạ dày ruột tăng bạch cầu ái toan‐Phần 2: Viêm dạ dày ruột tăng bạch cầu ái toan ‐ Chẩn đoán & Quản lý

Trước hết, nhiều tổng kết về các căn bệnh này cho thấy khi BCAT nhiều sẽ gây thương tổn và kích thích dạ dày ruột. EoG ảnh hưởng lên tất…

Cập nhật thông tin các bệnh do véc tơ truyền tháng 9 năm 2024 của Tổ chức Y tế Thế giới

|

Theo đánh giá của Tổ chức Y tế Thế giới,các bệnh do véc tơ truyền chiếm hơn 17% trong số các bệnh truyền nhiễm và là nguyên nhân gây ra…