Chào mừng bạn đến với website Viện Sốt rét-KST-CT Quy Nhơn

  DANH MỤC

  Liên kết website

  Bản đồ

  Thống kế truy cập

Đang online: 9
Hôm nay: 23
Hôm qua: 425
Tuần này: 485
7 ngày trước: 496
Tháng này: 1052
30 ngày trước: 1077

Thận trọng hội chứng viêm đa hệ thống cơ quan nguy kịch trên trẻ em nhiễm COVID‐19 đã xét nghiệm âm tính

Tại Việt Nam, đến nay tỷ lệ trẻ dưới 17 tuổi mắc COVID‐19 tử vong chỉ chiếm 0,35% (khoảng gần 150 trẻ) tổng số F0 tử vong chung. Gần đây, nhiều nước trên thế giới và Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa bệnh tật Mỹ (US.CDC) chỉ ra nhiều ca trẻ em mắc COVID‐19 với biểu hiện triệu chứng nhẹ khi nhiễm SARS‐CoV‐2 nhưng chỉ 2 tuần sau khi đã xét nghiệm âm tính

Tại Việt Nam, đến nay tỷ lệ trẻ dưới 17 tuổi mắc COVID‐19 tử vong chỉ chiếm 0,35% (khoảng gần 150 trẻ) tổng số F0 tử vong chung. Gần đây, nhiều nước trên thế giới và Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa bệnh tật Mỹ (US.CDC) chỉ ra nhiều ca trẻ em mắc COVID‐19 với biểu hiện triệu chứng nhẹ khi nhiễm SARS‐CoV‐2 nhưng chỉ 2 tuần sau khi đã xét nghiệm âm tính, thế nhưng một số trẻ bỗng nhiên diễn biến nặng trở lại, sốt cao, lạnh chi, tụt huyết áp tụt và rối loạn nhiều chức năng cơ quan, thậm chí phải can thiệp lọc máu, thở máy mới cứu sống.

Các nhà khoa học đặt tên đó là Hội chứng viêm đa cơ quan trên trẻ em có liên quan đến COVID‐19 (Multisystem Inflammatory Syndrome in Children_MIS‐C). Hội chứng MIS‐C lần đầu tiên được xác định vào tháng 4/2020 tại các Bệnh viện nhi ở các bang cua Mỹ và Vương quốc Anh, hội chứng này còn có tên gọi khác là Hội chứng đa cơ quan bị viêm ở trẻ em (paediatric inflammatory multisystem syndrome_PIMS) đây là một tình trạng mà trong đó các cơ quan khác nhau bị viêm, gồm có tim, phổi, thận, mắt, não và hệ tiêu hóa và nguyên nhân cũng như cơ chế gây nên ẫn chưa được hiểu thấu đáo (US.CDC). Tuy nhiên, nhiều trẻ em bị hội chứng MIS‐C có virus SARS‐CoV‐2 gây COVID‐19 hoặc có một ai đó ở cùng bệnh nhi đang còn bị COVID‐19. MIS‐C có thể nghiêm trọng, thậm chí gây tử vong, nhưng hầu hết trẻ được chẩn đoán sớm MIS‐C thì đều được chăm sóc tích cực và hồi phục. Vì trẻ em khi mắc COVID‐19 cũng có biểu hiện từ triệu chứng nhẹ đến nghiêm trọng (cần lưu ý vì chúng có thể được tiêm vaccine và có nhóm tuổi chưa được tiêm vaccine như 5‐11 tuổi), triệu chứng lâm sàng có thể kéo dài, cả tình trạng hậu COVID‐19 và di chứng cấp tính của nhiễm COVID‐19.

Vậy có mối liên quan nào giữa hội chứng MIS‐C và COVID‐19 được xác định hay không? MIS‐C được thúc đẩy do virus gây COVID‐19, xảy ra trên trẻ em không có triệu chứng thường gặp của COVID‐19 như sốt, đau họng hay ho. Hầu hết trẻ bị MIS‐C sẽ có kháng thể kháng virus SARS‐CoV‐2, chỉ ra rằng cơ thể của trẻ trước đó đã từng nhiễm COVID‐19. Số ca mắc hội chứng MIS‐C cũng tăng lên sau 4 tuần làn sóng COVID‐19 xảy ra trong cộng đồng. Các bác sỹ và nhà nghiên cứu vẫn đang tìm hiểu tại sao trẻ lại có họi chứng này sau nhiễm COVID‐19 nhưng các đối tượng khác thì không.


Hình 1

Nhiều chuyên gia bệnh truyền nhiễm trẻ em cân nhắc liệu xem MIS‐C có phải là một biến chứng muộn của COVID‐19 hay không?Nếu không có chẩn đoán sớm, quản lý và điều trị phù hợp thì MIS‐C có thể dẫn đến các vấn đề nghiêm trọng về sức khỏe hơn cho các cơ quan sống còn như tim, phổi hay thận. Trường hợp hiếm hơn có thể gây ra tổn thương trường diễn, thậm chí tử vong.

Hội chứng MIS‐C hay PIMS rất hiếm gặp nhưng rất nghiêm trọng! Tại các bệnh viện nhi của Mỹ và Anh ghi nhận hay gặp MIS‐C là các nhóm tuổi 8‐9, nhưng các nhóm tuổi trẻ hơn hoặc lớn hơn vẫn có.Hay gặp sau khi khỏi bệnh khoảng trung bình 4 tuần (2‐6 tuần) và hầu hết trẻ bị MIS‐C có kháng thể kháng SARS‐CoV‐2 cả.

Hội chứng hậu COVID‐19 ở trẻ em, kể cả khi trẻ em là F0 không triệu chứng hoặc triệu chứng nhẹ, nhưng sau khi khỏi bệnh và ra viện, một số trẻ em lại gặp các biểu hiện hậu COVID‐19 như đau đầu, mệt mỏi, đau cơ, rối loạn tiêu hoá, đau khớp, hạn chế hoạt động thể lực, suy giảm sức khỏe, ho kéo dài, hồi hộp mệt mỏi. Đặc biệt, một số ca có những ca khi chuyển nặng (MIS‐C) phải thở máy, lọc máu, điều trị nằm viện lâu dài, phải dùng kháng sinh liều cao, chi phí rất tốn kém dù trước đó khi mắc COVID‐19 thì chỉ triệu chứng nhẹ, nhưng sau 2‐3 tuần sau khi xét nghiệm real time RT‐PCR hay test nhanh phát hiện kháng nguyên âm tính, trẻ được gia đình nhập viện với triệu chứng hậu COVID‐19nặng, tổn thương phổi, tim, thận, sốc tim, viêm cơ tim, trụy tim mạch, loạn nhịp, suy hô hấp, sốt cao, rối loạn tiêu hóa phân lỏng, huyết áp tụt và SpO2 giảm dưới 90% phải can thiệp hồi sức tích cực, thở máy, dùng kháng sinh phổ rộng, liều cao, kéo dài nhiều ngày nằm viện và chi phí tốn kém.


Hình 2

Các yếu tố nguy cơ mắc hội chứng MIS‐C là gì? Tại Mỹ, các trẻ em da đen và gốc Mỹ Latinh bị hội chứng MIS‐C cao hơn so với trẻ em thuộc các chủng tộc khác. Các nghiên cứu cần giúp xác định tại sao MIS‐C ảnh hưởng trên các trẻ em này hơn các trẻ em khác. Các yếu tố có thể bao gồm cả sự tiếp cận thông tin y tế và các dịch vụ cũng như khả năng có mối liên quan nào đó giữa MIS‐C với yếu tố di truyền. Hầu hết các trẻ em mắc hội chứng MIS‐C có độ tuổi từ 3‐12, trung bình 8‐9 tuổi, nhưng cũng có một số ca xảy ra trên nhóm trẻ lớn hơn và cả trẻ em rất nhỏ.

Đặc biệt, các trẻ em đó khi vào hồi sức cấp cứu xét nghiệm COVID‐19 âm tính, nhưng sau vài ngày thì nồng độ kháng thể IgG rất cao, kèm theo các thành viên gia đình của trẻ có test dương tính COVID‐19 trước đó. Do vạy, nếu hội chứng MIS‐C trên trẻ em không được nghĩ đến và không phát hiện, chẩn đoán chính xác, điều trị kịp thời thì nguy cơ tử vong rất cao. Nếu trong gia đình có trẻ mắc COVID‐19, không được chủ quan dù đã âm tính mà cần theo dõi thêm ít nhất 4‐12 tuần(hay 1‐3 tháng) để phát hiện các hội chứng hậu COVID‐19 cần nhập viện tái khám ngay.

Bạn sẽ làm gì nếu bạn nghĩ trẻ em đang bị MIS‐C? Liên hệ với bác sỹ và điều dưỡng hoặc phòng khám, đội y tế lưu động ngay nếu trẻ có biểu hiện ban đầu của MIS‐C: Sốt đi kèm với hơn 1 triệu chứng sau: đau dạ dày, mắt xuất hiện các chấm xuất huyết (bloodshot eyes), tiêu chảy, chóng mặt, choáng váng (dấu của tụt huyết áp), ban đỏ, nôn mửa, sốt kéo dài 24 giờ hoặc kéo dài hơn, cảm giác mệt lả, tăng nhịp thở, tăng nhịp tim, đỏ và sưng phồng môi và lưỡi, đỏ hoặc sưng phồng tay và chân,sưng lớn hạch lympho. Tuy nhiên, không phải tất cả các trẻ có đầy đủ các triệu chứng trên. Một số xét nghiệm cần làm ngay là công thức máu toàn phần, thông số sinh hóa các cơ quan, siêu âm tim, siêu âm bụng, chụp x‐quang phổi.

Một số thuốc có thể dùng điều trị MIS‐C như immunoglobulin, steroids và các thuốc chống viêm khác đường tĩnh mạch để giảm phản ứng viêm và bảo vệ tim, thận và cơ quan khác do viêm hủy hoại kéo dài trước đó.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.https://www.who.int/news/item/23‐11‐2021‐who‐issues‐guidelines‐on‐the‐treatment‐of‐children‐with‐multisystem‐inflammatory‐syndrome‐associated‐with‐covid‐19

2.https://www.cdc.gov/mis/mis‐c.html

3.https://www.mayoclinic.org/diseases‐conditions/mis‐c‐in‐kids‐covid‐19/symptoms‐causes/syc‐20502550

4.https://www.hopkinsmedicine.org/health/conditions‐and‐diseases/coronavirus/misc‐and‐covid19‐rare‐inflammatory‐syndrome‐in‐kids‐and‐teens

5.https://coronavirus.health.ny.gov/multisystem‐inflammatory‐syndrome‐children‐mis‐c

6.https://www.childrenshospital.org/conditions‐and‐treatments/conditions/m/mis‐c

Tác giả: TS.BS.Huỳnh Hồng Quang
Chia sẻ:

Tin cùng chuyên mục

Một số phương thức tính toán cỡ mẫu nghiên cứu y sinh học trên động vật

Tính toán kích thước mẫu chính xác là điều thiết yếu để đảm bảo đối xử có đạo đức với nghiên cứu trên động vật và mô hình động vật…

Cơ chế phân tử mới nổi trong bệnh sinh sốt rét và phương pháp điều trị mới: tập trung vào bệnh sốt rét do Plasmodium falciparum (Phần 6‐ Hết)

Bệnh sốt rét vẫn là một gánh nặng lớn đối với sức khỏe toàn cầu, do tính sinh học phức tạp của Plasmodium và trầm trọng hơn bởi sự bất…

Cơ chế phân tử mới nổi trong bệnh sinh sốt rét và phương pháp điều trị mới: tập trung vào bệnh sốt rét do Plasmodium falciparum (Phần 5)

Việc phát triển một loại vccine sốt rét hiệu quả cao phải đối mặt với những rào cản về sinh học và hậu cần, chủ yếu là do sự biến…

Cơ chế phân tử mới nổi trong bệnh sinh sốt rét và phương pháp điều trị mới: tập trung vào bệnh sốt rét do Plasmodium falciparum (Phần 4)

Ức chế sự xâm nhập và nhân lên của ký sinh trùng trong hồng cầu là một điểm trọng tâm khác của các chiến lược chống sốt rét. Nghiên cứu…

Cơ chế phân tử mới nổi trong bệnh sinh sốt rét và phương pháp điều trị mới: tập trung vào bệnh sốt rét do Plasmodium falciparum (Phần 3)

Việc kiểm soát bệnh sốt rét không chỉ dựa vào các biện pháp can thiệp điều trị mà còn phụ thuộc rất nhiều vào các biện pháp phòng ngừa nhằm…

Cơ chế phân tử mới nổi trong bệnh sinh sốt rét và phương pháp điều trị mới: tập trung vào bệnh sốt rét do Plasmodium falciparum (Phần 2)

Bệnh sốt rét vẫn là một thách thức lớn đối với sức khỏe toàn cầu, trong đó Plasmodium falciparum là loại ký sinh trùng nguy hiểm nhất gây ra những…

Cơ chế phân tử mới nổi trong bệnh sinh sốt rét và phương pháp điều trị mới: tập trung vào bệnh sốt rét do Plasmodium falciparum (Phần 1)

Sốt rét là bệnh nhiễm trùng cấp tính do KST thuộc giống Plasmodium gây ra, lây truyền sang người qua vết đốt của muỗi cái thuộc giống Anopheles. Ước tính…

Có nên điều trị dự phòng gián đoạn cho người đi rừng trong chặng cuối lộ trình loại trừ sốt rét như một biện pháp bổ sung?

Trong số 87 bài báo được xác định, 33 bài báo cáo về các biện pháp can thiệp cụ thể ở các khu vực có nguy cơ cao hoặc các…

Cập nhật hướng dẫn điều trị và quản lý viêm thực quản tăng bạch cầu ái toan (Eosinophilic esophagitis_EoE) (còn nữa)

Viêm thực quản tăng bạch cầu ái toan (Eosinophilic esophagitis‐EoE)) là một dạng bệnh lý thuộc nhóm bệnh viêm hệ tiêu hóa tăng bạch cầu ái toan (EGID) xảy ra…

Cơ quan Quản lý Dược phẩm Châu Âu đưa ra quan điểm tích cực về thuốc phối hợp liều cố định albendazole‐ivermectin trong điều trị một số bệnh ký sinh trùng giun, sán ở người (Phần 3‐Hết)

Các bệnh giun truyền qua đất là mục tiêu cần được kiểm soát thông qua các chiến dịch cấp thuốc hàng loạt nhằm phòng ngừa tỷ lệ mắc bệnh cho…