Chào mừng bạn đến với website Viện Sốt rét-KST-CT Quy Nhơn

  DANH MỤC

  Liên kết website

  Bản đồ

  Thống kế truy cập

Đang online: 1
Hôm nay: 0
Hôm qua: 23
Tuần này: 475
7 ngày trước: 496
Tháng này: 1014
30 ngày trước: 1077

Sốt rét, suy dinh dưỡng gia tăng ở Cộng hoà Trung Phi (CAR) và các rào cản đối với can thiệp ngăn ngừa sốt rét ở phụ nữ mang thai ở vùng cận Saharan‐Châu Phi

Năm tổ chức trợ giúp của Pháp đang hoạt động tại Cộng hoà Trung Phi (CAR) nói tình hình an ninh không ổn định kể từ khi phiến quân tiếp quản đầu năm nay nắm giữ các nguồn tài trợnhằm trợ giúp nhân đạo. Các tổ chức nói rằng sự thiếu hụt lương thực trầm trọng và một sự gia tăng sốt rét đưa đến một sự đe doạ tới hàng chục ngàn người rời bỏ chổ ở.

Sốt rét, suy dinh dưỡng gia tăng ở Cộng hoà Trung Phi (CAR)

Clement Cazaubon là giám đốc cơ quan có trụ sở ở Pari tại quốc gia CAR, hoạt động chống lại đói nghèo hay ACF, một trong năm tổ chức phi chính phủ của Pháp (NGO) kêu gọi Liên Hiệp Quốc tái bố trí nhiệm vụ ở ngoài thủ đô.ACF mất 250,000 đô la sự trợ giúp nhân đạo khi hai căn cứ bị tấn công trong khi phiến loạn, Cazaubon nói. Theo đài quan sát nhân quyền, phiến quân và các nhóm quân sự khác tiếp tục tấn công các thường dân ở các vùng nông thôn. Tình trạng mất an ninh đã đẩy hơn 200,000 người ở CAR rời bỏ nhà cửa kể từ tháng 12. Sản xuất bị cấm và lượng ngũ cốc đã bị cướp bóc. Nhiều người rời bỏ nhà cửa và sống không nơi che chắn ở trong rừng.

Vấn đề trở nên tồi tệ, các bác sỹ không biên giới báo cáo rằng các cơ quan trợ giúp chỉ nhận được 31% ngân quỹ quốc tế theo yêu cầu vào tháng ba để giải quyết cuộc khủng hoảng.

Các rào cản đối với can thiệp để ngăn ngừa sốt rét ở phụ nữ mang thai ở vùng cận Saharan‐Châu Phi

Các rào cản chính là tiếp cận, phân phối và sử dụng các biện pháp nhằm giúp phòng ngừa sốt rét ở phụ nữ mang thai là liên quan một cách tương đối hằng định ở các quốc gia vùng cận Saharan‐Châu Phi và có thể cung cấp một bảng danh mục hữu ích trong việc xác định các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện các biện pháp quan trọng này, theo một nghiên cứu được xuất bản trong tuần này trên tờ tạp chí y khoa PLOS. Phân tích bởi Jenny Hill và các cộng sự từ Đại học y khoanhiệt đới Liverpoll ở Anh Quốc, Đại học y khoa nhiệt đới và vệ sinh London và PATH ở Seattle, Hoa Kỳ cũng thấy rằng có nhiều rào cản hơn trong việc thực hịên điều trị dự phòng cách quãng ở phụ nữ mang thai (IPTp) với thuốc SP ( sulfadoxine‐pyrimethamine) hơn là sử dụng màn tẩm hoá chất diệt muỗi ( ITNs, mà nó bảo vệ phụ nữ mang thai tránh vết cắn của muỗi nhiễm bệnh). Các phát hiện này là quan trọng bởi vì sốt rét ở phụ nữ mang thai là nguyên nhân tử vong khoảng 200,000 ca trẻ sơ sinh và 10,000 phụ nữ mỗi năm, có thể cũng là nguyên nhân gây ra sẩy thai và sinh non; tuy nhiên các biện pháp đơn giản, không đắt tiền này có thể ngăn ngừa sốt rét. Trong phân tích chi tiết 99 nghiên cứu thích hợp của họ về tất cả các loại, các tác giả thấy rằng các rào cản chính yếu nhằm cung cấp và thực hiện IPTp và ITNs bao gồm các hướng dẫn và chính sách không rõ ràng, các vấn đề về hệ thống y tế nói chung như là thiếu hụt thuốc, các vấn đề về cơ sở y tế như là không có sẵn nước (đểphụ nữ có thể dùng IPTp ở các cơ sở y tế ), nhầm lẫn trong các nhà cung cấp dịch vụ y tế về thời gian liều dùng của IPTp và phụ nữ mang thai chậm trể trong chăm sóc trước sinh.

Các rào cản xác định trong nghiên cứu này có thể hữu ích như là một danh mục cho sử dụng bởi các chương trình sốt rét quốc gia và các nhà làm chính sách nhằm xác định các yếu tố có ảnh hưởng đến việc thực hiện các can thiệp này trong bối cảnh hay địa điểm đặc biệt.

Các tác giả nói:” Phân tích này cung cấp một cơ sở toàn diện cho việc xác định các tắc nghẽn mang tính chìa khoá trong phân phối và sử dụng IPTp và ITN trong số các phụ nữ mang thai,và sự hiểu biết về các can thiệp diện rộng có hiệu quả, để xác lập các ưu tiên và can thiệp có khả năng tác động lớn nhất trong kỳ ngắn hạn hay trung hạn.

Các tác giả bổ sung: ” Điểm lại cũng nhấn mạnh nhu cầu với các nghiên cứu đa quốc gia nhằm đánh gái các can thiệp đích và nhiều mặt để cải thiện sự phân phối và sử dụng IPTp và ITNs”

Tác giả: Ths.Bs. Lê Thạnh
Nguồn voanews.com và sciencedaily.com
Chia sẻ:

Tin cùng chuyên mục

Khởi động hợp tác quốc tế giữa Bệnh viện Đại học Grenoble Alpes (Pháp) và Viện Sốt rét‐Ký sinh trùng‐Côn trùng Quy Nhơn (Việt Nam)

Bệnh viện Đại học Grenoble Alpes (Centre Hospitalier Universitaire Grenoble Alpes, viết tắt là CHU Grenoble Alpes) là một bệnh viện có tham gia giảng dạy và đào tạo nhân lực của Pháp được…

Tổng kết 10 năm công tác hợp tác quốc tế của Viện Sốt rét ‐ Ký sinh trùng ‐ Côn trùng Quy Nhơn (2016‐2026) (tiếp theo và hết)

Trong 10 năm qua, Viện đã tích cực tổ chức và tham gia nhiều hội thảo, hội nghị, tọa đàm quốc tế và khu vực về phòng, chống sốt rét…

Tổng kết 10 năm công tác hợp tác quốc tế của Viện Sốt rét ‐ Ký sinh trùng ‐ Côn trùng Quy Nhơn (2016‐2026) (tiếp theo)

Hợp tác quốc tế được triển khai gắn chặt với định hướng chuyên môn của Viện, qua đó tạo điều kiện để thực hiện các nghiên cứu chuyên sâu về…

Tổng kết 10 năm công tác hợp tác quốc tế của Viện Sốt rét ‐ Ký sinh trùng ‐ Côn trùng Quy Nhơn (2016‐2026) (còn nữa)

Hợp tác quốc tế trong nghiên cứu khoa học là hoạt động rất quan trọng để các bên cùng nhau giải quyết các thách thức toàn cầu phức tạp, thúc…

Hội đồng chuyên gia đánh giá về chẩn đoán sốt xuất huyết Dengue

Nhằm ứng phó với tình trạng Khẩn cấp Toàn cầu về bệnh truyền nhiễm guy hiểm sốt xuất huyết Dengue giai đoạn 2024‐2025, Tổ chức Y tế Thế giới (TCYTTG)…

Hội thảo “Một Sức khỏe Tiểu vùng sông Mê Kông mở rộng” (Vòng 2)‐Tăng cường nguồn nhân lực “Một Sức khỏe” để ứng phó với các thách thức sức khỏe cộng đồng: Tập trung vào xây dựng năng lực

Hội thảo “Một Sức khỏe Tiểu vùng sông Mê Kông mở rộng” (GMS‐One Health) với chủ đề “Tăng cường nguồn nhân lực Một Sức khỏe để ứng phó với các…

Viện Sốt rét‐KST‐CT Quy Nhơn đón tiếp Đoàn công tác Đơn vị Nghiên cứu Y học Hải quân Mỹ Ấn Độ Dương‐Thái Bình Dương (NAMRU‐IP) đến thăm và làm việc

Ngày 24‐25/9/2025, đoàn chuyên gia của Đơn vị Nghiên cứu Y học Hải quân Hoa Kỳ Khu vực Ấn Độ Dương ‐ Thái Bình Dương (NAMRU‐IP)tại Singapore và Việt Nam…

Opisthorchis viverrini: Loài sán lá gan được xác định sinh ung thư biểu mô đường mật ở gan của người chưa được “nghiên cứu toàn diện” tại Việt Nam (tiếp theo và hết)

Trong số các loại sán lá gan nhỏ Opisthorchis viverrini, Clonorchis sinensis thì loài O. viverrini hiện đang được nghiên cứu chuyên sâu nhất tại Đông Nam Á với mối…

Opisthorchis viverrini: Loài sán lá gan được xác định sinh ung thư biểu mô đường mật ở gan của người chưa được “nghiên cứu toàn diện” tại Việt Nam (còn nữa)

Trong khuôn khổ chuyến thăm và làm việc theo lời mời của PGS.TS. Watcharin Loilome, giám đốc Viện Nghiên cứu Ung thư đường mật của Đại học Khon Kaen, Thái…