Lịch sử nghiên cứu và ứng dụng sắc ký lỏng cao áp
Nhà thực vật học người Nga Mikhail Tsvet (Mikhail Semyonovich Tsvet) phát minh ra kỹ thuật sắc ký vào năm 1903 khi ông đang nghiên cứu về chlorophyll. Chữ sắc trong sắc ký có nghĩa là màu; nó vừa là tên của Tsvet trong nghĩa tiếng Nga và vừa là màu của các sắc tố thực vật ông phân tích vào lúc bấy giờ. Tên này vẫn tiếp tục được dùng dù các phương pháp hiện đại không còn liên quan đến màu sắc.
Năm 1952, Archer John Porter Martin và Richard Laurence Millington Synge được trao giải Nobel Hoá học cho phát minh của họ về sắc ký phân bố.
Kỹ thuật sắc ký phát triển nhanh chóng trong suốt thế kỷ 20. Các nhà nghiên cứu nhận thấy nguyên tắc của sắc ký Tsvet có thể được áp dụng theo nhiều cách khác nhau, từ đó họ cải tiến và chuyển đổi thành nhiều loại sắc ký khác nhau. Đồng thời, kỹ thuật thực hiện sắc ký cũng cải tiến liên tục nhằm phân tích các phân tử tương tự hoặc khác nhau.
Ví dụ: Sắc kí phân tích được dùng để xác định danh tính và nồng độ các phân tử trong hỗn hợp.
Hoặc sắc kí tinh chế được dùng để tinh chế các chất có trong hỗn hợp.
Sắc ký là một kỹ thuật hoá phân tích dùng để tách các chất trong một hỗn hợp, bao gồm việc cho mẫu chứa chất cần phân tích trong pha động (thường là dòng chảy của dung môi) di chuyển qua pha tĩnh. Pha tĩnh trì hoãn sự di chuyển của các thành phần trong mẫu. Khi các thành phần này di chuyển qua hệ thống sắc ký với tốc độ khác nhau, chúng sẽ được tách khỏi nhau theo thời gian. Mỗi một thành phần đi qua hệ thống trong một khoảng thời gian riêng biệt, gọi là thời gian lưu.
![]() |
Trong kỹ thuật sắc ký, hỗn hợp được chuyên chở trong chất lỏng hoặc khí và các thành phần của nó được tách ra do sự phân bố khác nhau của các chất hòa tan khi chúng chảy qua pha tĩnh rắn hoặc lỏng. Nhiều kỹ thuật khác nhau đã được dùng để phân tích hợp chất phức tạp dựa trên ái tính khác nhau của các chất trong môi trường động khí hoặc lỏng và đối với môi trường hấp phụ tĩnh mà chúng di chuyển quanhư giấy, gelatin hay gel magnesium silicate,…
Một số kỹ thuật sắc ký ứng dụng vào nghiên cứu
Sắc ký là kỹ thuật phân tích chất, phân tích khác biệt trong phân bố giữa pha động và pha tĩnh để tách các thành phần trong hỗn hợp và thành phần của hỗn hợp có thể tương tác với pha tĩnh dựa trên điện tích, độ tan tương đối và tính hấp phụ của chất đó.

M
ức lưu giữ

Mức lưu giữ đo tốc độ một chất di chuyển trong hệ thống sắc ký. Ở các hệ thống liên tục như sắc ký lỏng cao áp_HPLC (High Performance Liquid Chromatography) hay sắc ký khí _GC (Gas Chromatography) mà các hợp chất được chiết xuất bởi chất chiết xuất, mức lưu giữ được đo bằng thời gian lưu Rt hay tR, khoảng thời gian giữa tiêm và phát hiện. Ở các hệ thống ngắt quãng như TLC (Thin Layer Chromatography), mức lưu giữ được đo bằng hệ số lưu Rf, quãng đường di chuyển của hợp chất chia cho quãng đường di chuyển của chất chiết xuất (chạy nhanh hơn hợp chất cần phân tích). Mức lưu giữ của một chất thường khác nhau đáng kể giữa các thí nghiệm và phòng thí nghiệm do dao động của chất chiết xuất, pha tĩnh, nhiệt độ và thiết kế của thí nghiệm. Vì vậy điều quan trọng là phải so sánh mức lưu giữ của hợp chất muốn khảo sát với một hoặc nhiều hợp chất chuẩn trong cùng điều kiện.












