Chào mừng bạn đến với website Viện Sốt rét-KST-CT Quy Nhơn

  DANH MỤC

  Liên kết website

  Bản đồ

  Thống kế truy cập

Đang online: 4
Hôm nay: 37
Hôm qua: 108
Tuần này: 622
7 ngày trước: 631
Tháng này: 1112
30 ngày trước: 1124

Phát hiện sự thay đổi gen của ký sinh trùng sốt rét Plasmodium vivax ở Hàn Quốc khi phân tích trình tự nucleotide trong DNA

Sốt rét là một trong những bệnh truyền nhiễm chủ yếu lây truyền qua muỗicó ảnh hưởng lớn đến chất lượng cuộc sống (quality of life). Theo số liệu của Tổ chức Y tế thế giới vào năm 2010 đã có hơn 219 triệu trường hợp mắc bệnh sốt rét với khoảng 660.000 trường hợp tử vong.

31/10/2013‐Sốt rét là một trong những bệnh truyền nhiễm chủ yếu lây truyền qua muỗicó ảnh hưởng lớn đến chất lượng cuộc sống (quality of life). Theo số liệu của Tổ chức Y tế thế giới vào năm 2010 đã có hơn 219 triệu trường hợp mắc bệnh sốt rét với khoảng 660.000 trường hợp tử vong. Plasmodium vivax là loài ký sinh trùng sốt rét phổ biến đứng hàng thứ hai ở người phân bố rộng rãi trên toàn thế giới đặc biệt là ở châu Á, tiểu vùng của Châu Đại dương, Trung Đông, Nam và Trung Mỹ. Có khoảng 2,85 tỷ người trên thế giới sống ở các vùng có nguy cơ lây nhiễm trong năm 2009.

Sốt rét vivax đã từng là loài phổ biến ở Nhật Bản bao gồm cả đại lục (Honshu) và các hòn đảo phía bắc (Hokkaido), nhưng nó đã được loại trừ khỏi các khu vực này vào năm 1959. Tương tự như Nhật Bản, Hàn Quốc (Nam Hàn) là một đất nước khác mà sốt rét vivax đã được loại trừ thành công vào cuối của những năm 1970s. Tuy nhiên, sự tái diễn của bệnh sốt rét do vivax ở Hàn Quốc đã được báo cáo vào năm 1993. Bệnh nhân đầu tiên là một người lính Hàn Quốc đã phục vụ trong khu phi quân sự (một khu vực biên giới giữa Nam và Bắc Triều Tiên) và chưa bao giờ đi ra nước ngoài. Mặc dù các biện pháp phòng chống bệnh sốt rét liên tục được thực hiện bởi chính phủ Hàn Quốc, tuy nhiên vẫn có sự gia tăng ổn định về số lượng các trường hợp sốt rét vivax được báo cáo cho đến năm 2000 (4.183 trường hợp), sau đó giảm dần cho đến năm 2004 (864 trường hợp), trong khi số lượng người dân bị nhiễm bệnh sống trong hoặc gần khu vực này tăng dần. Số lượng các trường hợp được báo cáo dao động giữa 838 và 2227 mỗi năm từ năm 2005 đến 2011. Có nhiều điểm tương đồng trong các hệ sinh thái (khí hậu, thảm thực vật, loài muỗi) của Nhật Bản và Hàn Quốc có nghĩa là môi trường ở Nhật Bản là đặc biệt phù hợp trong việc hình thành chủng sốt rét vivax ở Hàn Quốc. Ví dụ, các loài vector chính của bệnh sốt rét vivax ở Hàn Quốc là Anopheles sinensis mà trong quá khứ loài muỗi này cũng đã là loài vector chính của bệnh sốt rét vivax trong đất liền của Nhật Bản và nó vẫn còn được phân bố trên toàn Nhật Bản. Ngoài ra, muỗi trên đất liền của Nhật Bản rất phổ biến từ tháng sáu đến tháng chín (mùa mưa và mùa hè) và cùng thời gian này sốt rét vivax cũng là loài phổ biến nhất tại Hàn Quốc. Vì những lý do này, điều rất quan trọng không chỉ đối với Hàn Quốc mà còn cho cả Nhật Bản để hiểu được đặc điểm của bệnh sốt rét vivax ở Hàn Quốc và cung cấp một lời giải thích có thể như là lý do tại sao, mặc dù một chương trình phòng chống sốt rét liên tục kéo dài hai thập kỷ nhưng những nỗ lực để loại trừ bệnh sốt rét vivax đã không thành công. Để trả lời câu hỏi này, Tiến sĩ Moritoshi Iwagami và cộng sự đã tiến hành một nghiên cứu theo chiều dọc (longitudinal study) kéo dài 15 năm trên quần thể gen (population genetics) của P. vivax ở Hàn Quốc bằng cách sử dụng các dấu hiệu trung hòa tính đa hình cao (highly polymorphic neutral markers) của các ký sinh trùng.

Nhóm nghiên cứu của các nhà nghiên cứu từ Trung tâm Quốc gia Nhật bản về Sức khỏe toàn cầu và Y tế (Japanese National Center for Global Health and Medicine) Đại học Inje và Đại học Tokyo đã phân tích 163 mẫu P.vivax phân lập ở Hàn quốc được thu thập từ binh sĩ Hàn Quốc đã phục vụ trong khu phi quân sự giai đoạn 1994‐2008 bằng cách sử dụng 14 vị trí của trình tự nucleotide (microsatellite) trong DNA về bộ gen ký sinh trùng. Dựa trên dữ liệu này, họ thực hiện việc phân tích gen trong quần thể, trong đó tập trung vào sự khác nhau của các quần thể ký sinh trùng giữa các năm liên tiếp nhằm cung cấp một ước tính chi tiết và chính xác về các đặc tính trong cấu trúc quần thể sốt rét vivax và động lực về sự lan truyền vivax theo thời gian. Phân tích quần thể gen của ký sinh trùng vivax thấy hai kiểu gen cùng tồn tại từ năm1994 đến 2001, trong khi ba kiểu gen khác nhau cùng tồn tại từ năm 2002 đến 2008. Kết quả này chứng tỏ sự thay đổi gen mạnh mẽ xảy ra trong quần thể ở Hàn Quốc trong năm 2002 và 2003. Dữ liệu này cho thấy ký sinh trùng P.vivax đã được đưa vào từ quần thể khác có lẽ là từ Bắc Triều Tiên, đặc biệt là trong năm 2002 và 2003, đồng thời giải thích lý do tại sao Hàn Quốc đã không thể loại trừ bệnh sốt rét vivax trong 20 năm. Phát hiện này là một ví dụ mà ký sinh trùng sốt rét được lây truyền bởi muỗi Anopheles trong khi giữa hai nước (Nam và Bắc Triều Tiên) đi du lịch về cơ bản là bị cấm. Bằng chứng này cho thấy khó khăn trong việc loại trừ bệnh sốt rét của một quốc gia và nhu cầu hợp tác giữa hai (hoặc nhiều hơn) các nước láng giềng để loại trừ bệnh sốt rét có hiệu quả.

Trong tương lai gần một sự phân bố của muỗi Anopheles có thể mở rộng ở Nhật Bản do sự ấm lên trên toàn cầu hay biến đổi khí hậu. Một số lượng nhất định bệnh nhân sốt rét vivax và/hoặc mang thể ẩn của vivax đến Nhật Bản từ Hàn Quốc và ở lại trong hoặc gần nơi sinh sản An.sinensis trong mùa hè thì sự lan truyền sốt rét vivax bản địa có thể xảy ra bởi muỗi bị nhiễm tại chỗ ở Nhật Bản. Vì vậy, sự giám sát chặt chẽ tất cả các du khách đến từ vùng dịch tễ của Hàn Quốc là cần thiết và sự hợp tác giữa hai quốc gia nhằm ngăn chặn việc đưa ký sinh trùng sốt rét vào Nhật Bản.

Tác giả: Ths.Bs. Lê Thạnh
Theo sciencedaily.com
Chia sẻ:

Tin cùng chuyên mục

Một số xét nghiệm sinh học phân tử trong nghiên cứu một số bệnh truyền nhiễm ở người (Tiếp theo và hết)

Tương tự như PCR, thì realtime PCR cũng là một kỹ thuật nhân bản DNA dựa vào chu kỳ nhiệt. Tuy nhiên, trong kỹ thuật PCR cần phải đợi PCR…

Cập nhật một số nghiên cứu về loài ký sinh trùng sốt rét Plasmodium vivax còn bí ẩn để tiến tới loại trừ sốt rét (Phần 1)

Một nghiên cứu dịch tễ phân tử của bệnh nhiễm trùng P. vivax ở các loài vượn sống hoang dã. Bằng cách sàng lọc hơn 5.000 mẫu phân từ 78…

Thí điểm ứng dụng khuếch đại đẳng nhiệt vòng lặp (LAMP) trong đánh giá nhiễm ký sinh trùng sốt rét không triệu chứng trong tiến trình tiến tới loại trừ sốt rét? (Phần 3‐Hết)

Giá trị dự đoán dương tính của LAMP (84,6% [95% CI 79,2‐89,0]) thấp hơn so với cả phương pháp soi KHV (93,2% [87,8‐96,7]) và RDT (99,3% [96,1‐100]). Giá trị dự…

Thí điểm ứng dụng khuếch đại đẳng nhiệt vòng lặp (LAMP) trong đánh giá nhiễm ký sinh trùng sốt rét không triệu chứng trong tiến trình tiến tới loại trừ sốt rét? (Phần 2)

Xét nghiệm Pan LAMP phát hiện tất cả các loài Plasmodium gây bệnh ở người ( Bộ dụng cụ phát hiện Malaria Pan Loopamp™, Công ty TNHH Hóa chất Eiken,…

Thí điểm ứng dụng khuếch đại đẳng nhiệt vòng lặp (LAMP) trong đánh giá nhiễm ký sinh trùng sốt rét không triệu chứng trong tiến trình tiến tới loại trừ sốt rét? (Phần 1)

Nhiễm ký sinh trùng sốt rét (KSTSR) không triệu chứng và các yếu tố nguy cơ liên quan trong bối cảnh loại trừ sốt rét (LTSR) là một thế tiến…

Kỷ nguyên công nghệ vaccine mRNA và phòng chống bệnh ký sinh trùng trong tương lai (Phần 3‐Tiếp theo)

Việc phát triển vắc‐xin hiệu quả chống lại các loài ký sinh trùng giun sán đa bào nhìn chung gặp khó khăn, thậm chí còn thách thức hơn nhiều so…

Kỷ nguyên công nghệ vaccine mRNA và phòng chống bệnh ký sinh trùng trong tương lai (Phần 4 và hết)

Hiện nay có nhiều bằng chứng thuyết phục rằng việc phát triển các vắc‐xin cho phòng chống giun đa giá là cần thiết và hiệu quả nếu mục tiêu kiểm…

Kỷ nguyên công nghệ vaccine mRNA và phòng chống bệnh ký sinh trùng trong tương lai (Phần 2‐Tiếp theo)

Nghiên cứu về vắc‐xin mRNA bắt đầu từ năm 1990, khi sự biểu hiện in vivo của ba loại protein (β‐galactosidase, luciferase và chloramphenicol acetyltransferase) được chứng minh thành công…

Kỷ nguyên công nghệ vắc‐xin mRNA và phòng chống bệnh ký sinh trùng trong tương lai ( Phần 1‐còn nữa)

Trong số nhiều nền tảng chẩn đoán, điều trị và vắc‐xin được triển khai nhanh chóng gần đây, công nghệ dựa trên mRNA (bao gồm sinh học RNA, hóa học,…

Một số xét nghiệm sinh học phân tử trong nghiên cứu một số bệnh truyền nhiễm ở người (tiếp theo)

Một số xét nghiệm sinh học phân tử trong nghiên cứu một số bệnh truyền nhiễm ở người (tiếp theo)

Kỹ thuật PCR do nhà sinh học người Mỹ là Kary Mullis phát triển vào năm 1980, đóng góp quan trọng trong lĩnh vực gen học, y học, Kể từ…