Chào mừng bạn đến với website Viện Sốt rét-KST-CT Quy Nhơn

  DANH MỤC

  Liên kết website

  Bản đồ

  Thống kế truy cập

Đang online: 5
Hôm nay: 2
Hôm qua: 2
Tuần này: 471
7 ngày trước: 476
Tháng này: 1004
30 ngày trước: 1020

Một số điểm mới trong nghiên cứu sốt rét và ký sinh trùng tại Hội nghị khoa học thường niên về bệnh nhiệt đới và vệ sinh tại Hoa Kỳ

Từ ngày 13/11 đến 17/11/2016, tại khách sạn Marriot Marquies, thành phố Atlanta, bang Georgea, Hoa Kỳ đã diễn ra “Hội nghị thường niên Hội Y học nhiệt đới và vệ sinh Mỹ” (ASTMH) với sự tham gia trên 2200 chuyên gia, giáo sư, tiến sỹ và các nhà khoa học chuyên ngành khắp thế giới nhằm chia sẻ thông tin, kinh nghiệm cũng như giới thiệu một số phương pháp, kỹ thuật mới trong chẩn đoán, điêu trị và quản lý ca bệnh nhiệt đới trên phạm vi toàn cầu.

Từ ngày 13/11 đến 17/11/2016, tại khách sạn Marriot Marquies, thành phố Atlanta, bang Georgea, Hoa Kỳ đã diễn ra “Hội nghị thường niên Hội Y học nhiệt đới và vệ sinh Mỹ” (ASTMH) với sự tham gia trên 2200 chuyên gia, giáo sư, tiến sỹ và các nhà khoa học chuyên ngành khắp thế giới nhằm chia sẻ thông tin, kinh nghiệm cũng như giới thiệu một số phương pháp, kỹ thuật mới trong chẩn đoán, điêu trị và quản lý ca bệnh nhiệt đới trên phạm vi toàn cầu.

Về nghiên cứu chẩn đoán, điều trị và loại trừ sốt rét

Trước khi các hội trường báo cáo chuyên đề, một số báo cáo trong phiên toàn thể là hồm y học lâm sàng các bệnh nhiệt đới và sức khỏe toàn cầu (Clinical Tropical medicine and global health), hay các kỹ thuật giải trình tự thế hệ mới đến tiến bộ trong nghiên cứu bệnh truyền nhiễm toàn cầu (Next‐generation sequencing technologies to advance global infectious diseases research) và đưa ra bàn luận một số ca bệnh khó hiểu, hướng giải quyết ca bệnh. Các ca bệnh có sốt: Kinh nghiệm chẩn đoán và hướng xủ trí toàn diện.

Liên quan đến sốt rét, các chuyên gia côn trùng còn đưa ra cách tiếp cận mới trong phòng chống muỗi, hạn chế truyền bệnh bằng các phương pháp mới. Đồng thời, các nhà khoa học đưa ra các điểm mới trong nghiên cứu chu kỳ sinh học và phát triển của muỗi như một tiếp cận đích tác dụng của các hóa chất mới, các kết quả bước đầu đánh giá cho thấy tính khả thi. Đối với muỗi, các nhà côn trùng Mỹ cũng đã phân tích sâu về mặt sinh hóa học, di truyền và di truyền phân tử. Cuối cùng là các báo cáo tập trung mảng kháng hóa chất của muỗi.


Hình 1

Một số nghiên cứu về giám sát và loại trừ thuốc artesuante trên thị trường ở nhiều quốc gia trong khu vực Đông Nam Á và châu Phi đã có hiệu quả, góp phần làm giảm ca bệnh SRAT và tử vong, cũng như kháng thuốc. Một số nghiên cứu ứng dụng về công cụ sinh học phân tử để đánh giá tình trạng người lành mang ký sinh trùng tại các vùng sốt rét đã và đang tiền loại trừ hoặc loại trừ cho ra các kết quả thú vị (Sub‐patent/patent malaria infection) hay thử nghiệm một số biện pháp áp dụng phòng bệnh bằng hóa liệu pháp theo mùa như để loại trừ sốt rét đích (MDA for malaria interruption in malaria elimination roadmap). Các nghiên cứu mới tiến hành năm 2015‐2016, áp dụng một số phương pháp chẩn đoán và phát hiện trên quần thể người lành mang trùng (asymptomatic carriers) và một số đối tượng đặc biệt như phụ nữ mang thai có mật độ KSTSR trong máu ngoại vi rất thấp và trên các bênh nhân nhiễm HIV/AIDS có tình trạng ức chế ký sinh trùng bằng các kỹ thuật mới cải tiến như qRT‐PCR, LAMP, Nested‐PCR, ultrasensitivity methods, hoặc nPCR trên các mẫu nước bọt qua cơ chế máu do động mạch nuôi tuyến nước bọt chứa KSTSR khi bệnh nhân đó mắc sốt rét thay thế cho nPCR máu cũng phần nào giải quyết phát hiện một số lượng lớn ca bệnh sốt rét trên quần thể qua nghiên cứu cỡ mẫu trên 200 ca ở Kenya, độ nhạy và độ đặc hiệu so với chuẩn vàng microscopy trên 95% và độ phù hợp và độ phù hợp quan sát trên 85%, đặc biệt đáng chú ý là lượng DNA trong nước bọt mà họ tách chiết tương đương lượng DNA trong mẫu máu thu thập trên cùng bệnh nhân.


Hình 2

Nhiều phân tích sâu về sinh học phân tử và dược động học kháng thuốc do các dự án nước ngoài tiến hành tại Campuchia cho ra các kết quả bất ngờ cả với thuốc artemisine và thuốc đi kèm. Khoảng 10 nghiên cứu đánh giá về mặt bộ gen của KSTSR P. falciparum có các khiếm khuyết khiến cho thay đổi kết quả chẩn đoán các test chẩn đoán nhanh khi phát hiện các chủng Plasmodium spp. trên nhiều quốc gia châu Phi và châu Á. Từ đó, có thể đề xuất ngưỡng 5% khiếm khuyết gen chi phối cho HRP2/3 là có thể thay đổi loại test khác và thay đổi sang lọai test khác non‐HRP2 RDTs for P. falciparum là như thế nào?

Vaccin phòng bệnh sốt rét cũng là một trong các chủ đề chính trong các báo cáo nêu ra tại hội nghi này, có thấy việc tìm kiếm một ứng viên vaccine có hiệu quả không phải là “trôi chảy” mà vẫn còn nhiều thách thức khi tính đa dạng của loài Plasmodium falciparum vẫn còn đang diễn ra. Ngoài ra, các nhà khoa học cũng báo cáo các bệnh lý do vector truyền bẩm sinh và hậu quả lên sự phát triển thần kinh đầu đời của trẻ em nhỏ.

Về các bệnh ký sinh trung và đơn bào

Một số bệnh đơn bào được đề cập gồm có loại amip ăn não Naegleria fowleri (xem như một điểm sáng trong vấn đề y tế đang bị lãng quên nhất hiện nay), Entamoeba histolytica và các rối loạn dinh dưỡng đường tiêu hóa ở người không chỉ ở các quốc gia nhiệt đới mà còn ở các quốc gia đã phát triển.

Giun móc, giun mỏ, sán máng, sán dây bò và dây lợn, giun chỉ Loa Loa, sán dải cá, ấu trugnf sán dây lợn, ấu trùng giun đầu gai và giun lươn và các bệnh thuộc nhóm các bệnh nhiệt đới bị lãng quên trên nhóm dân di dân và dân tỵ nạn cũng được đề cập trong hội nghị này.


Hình 3

Điểm đặc biệt ở chuyên đề bệnh ký sinh trùng là nhiều nghiên cứu tập trung đánh giá hiệu quả và tác động của một loại thuốc vốn điều trị bệnh ký sinh trùng đường ruột, đó là Ivermectine. Ivermectine làm giảm lan truyền sốt rét qua nhiều bằng chứng cho thấy giảm lan truyền và giảm thể ngủ trong tế bào gan nữa, dạng sử dụng điều trị hàng loạt (MDA) không có hại cho bệnh nhân cũng như quần thể. Đánh giá độ an toàn trên cả liều cao của Ivermectine có thể gây ngứa toàn thân và đau bụng dạng con thắt. Do phác đồ DHA‐PPQ plus primaquin không ức chế được thoi trùng trong muỗi, do vậy không có hiệu quả giảm lan truyền ở đây đã kết hợp thêm thuốc Ivermectine mới có tác dụng giảm lan truyền trong cơ thể muỗi thông qua diệt muỗi chết sau khi muỗi đốt người được cho dùng thuốc.

Tuy nhiên, các nghiên cứu cho thấy chưa tính đến kinh tế ‐ hiệu quả của việc dùng thuốc này vì loại thuốc này tương đối đắt tiền do dùng Ivermectin trong MDA cộng đồng nhiều đến vậy!Nếu phoi hop DHA+PPQ+IVM sẽ làm tăng hiệu quả muỗi chết và không còn tác dụng truyền bệnh, do tỷ lệ sống còn của muỗi sau khi hút phải máu nhiễm các thuốc này, khả năng do các chất chuyển hóa và hoạt động gây chết ở muỗi (mosquitoes lethal effect). Một nghiên cứu khác tại Thái lan cho thấy khi dùng phối hợp nhiều loại thuốc DHA+PPQ+IVM+PRQ đã có ít nhiều tác dụng ngoại ý trên gan bệnh nhân với men gan tăng cao là điều đáng lưu ý.

Về bệnh truyền nhiễm đang nổi và tái nổi

Đó là các căn bệnh tối nguy hiểm như bệnh do virus Ebola, virus Zika được các nhà khoa học của Đơn vị nghiên cứu y học Mỹ tiến hành một cách bài bản và hiện nay đang tiến tới thử nghiệm vaccine phòng bệnh.


Hình 4

Cuối cùng các nghiên cứu đề xuất cần chia sẻ thông tin một cách hệ thống giữa các quốc gia để cùng có kỹ thuật phòng chống và nhất là các bệnh có nguy cơ gây dịch. Các nhà khoa học trên thế giới đã học hỏi lẫn nhau về kinh nghiệm trong phát hiện chẩn đoán, điều trị và phòng bệnh cũng như kỹ năng phân tích và trình bày các nghiên cứu theo hướng mới, với các mô hình toán học rất hay và khoa học.

Một số tài liệu tham khảo trên các trang website:

1.Ivermectin Research for Malaria Elimination Network

2.ACS infectious diseases (News).

3.MESE Malaria Eradication Scientific alliance.

4.Plos Neglected Tropical Diseases.

5.Biomedical sciences.

6.Fungal biology and Biotechnology.

7.BioMed Central ‐ The open access.

8.DNDi ‐ Drugs for Neglected Diseases Initative.

9.http://plasmodb.org/plasmo/mahpic.jsp.

Tác giả: TS.BS. Huỳnh Hồng Quang
Viện Sốt rét‐KST‐CT Quy Nhơn
Chia sẻ:

Tin cùng chuyên mục

Khởi động hợp tác quốc tế giữa Bệnh viện Đại học Grenoble Alpes (Pháp) và Viện Sốt rét‐Ký sinh trùng‐Côn trùng Quy Nhơn (Việt Nam)

Bệnh viện Đại học Grenoble Alpes (Centre Hospitalier Universitaire Grenoble Alpes, viết tắt là CHU Grenoble Alpes) là một bệnh viện có tham gia giảng dạy và đào tạo nhân lực của Pháp được…

Tổng kết 10 năm công tác hợp tác quốc tế của Viện Sốt rét ‐ Ký sinh trùng ‐ Côn trùng Quy Nhơn (2016‐2026) (tiếp theo và hết)

Trong 10 năm qua, Viện đã tích cực tổ chức và tham gia nhiều hội thảo, hội nghị, tọa đàm quốc tế và khu vực về phòng, chống sốt rét…

Tổng kết 10 năm công tác hợp tác quốc tế của Viện Sốt rét ‐ Ký sinh trùng ‐ Côn trùng Quy Nhơn (2016‐2026) (tiếp theo)

Hợp tác quốc tế được triển khai gắn chặt với định hướng chuyên môn của Viện, qua đó tạo điều kiện để thực hiện các nghiên cứu chuyên sâu về…

Tổng kết 10 năm công tác hợp tác quốc tế của Viện Sốt rét ‐ Ký sinh trùng ‐ Côn trùng Quy Nhơn (2016‐2026) (còn nữa)

Hợp tác quốc tế trong nghiên cứu khoa học là hoạt động rất quan trọng để các bên cùng nhau giải quyết các thách thức toàn cầu phức tạp, thúc…

Hội đồng chuyên gia đánh giá về chẩn đoán sốt xuất huyết Dengue

Nhằm ứng phó với tình trạng Khẩn cấp Toàn cầu về bệnh truyền nhiễm guy hiểm sốt xuất huyết Dengue giai đoạn 2024‐2025, Tổ chức Y tế Thế giới (TCYTTG)…

Hội thảo “Một Sức khỏe Tiểu vùng sông Mê Kông mở rộng” (Vòng 2)‐Tăng cường nguồn nhân lực “Một Sức khỏe” để ứng phó với các thách thức sức khỏe cộng đồng: Tập trung vào xây dựng năng lực

Hội thảo “Một Sức khỏe Tiểu vùng sông Mê Kông mở rộng” (GMS‐One Health) với chủ đề “Tăng cường nguồn nhân lực Một Sức khỏe để ứng phó với các…

Viện Sốt rét‐KST‐CT Quy Nhơn đón tiếp Đoàn công tác Đơn vị Nghiên cứu Y học Hải quân Mỹ Ấn Độ Dương‐Thái Bình Dương (NAMRU‐IP) đến thăm và làm việc

Ngày 24‐25/9/2025, đoàn chuyên gia của Đơn vị Nghiên cứu Y học Hải quân Hoa Kỳ Khu vực Ấn Độ Dương ‐ Thái Bình Dương (NAMRU‐IP)tại Singapore và Việt Nam…

Opisthorchis viverrini: Loài sán lá gan được xác định sinh ung thư biểu mô đường mật ở gan của người chưa được “nghiên cứu toàn diện” tại Việt Nam (tiếp theo và hết)

Trong số các loại sán lá gan nhỏ Opisthorchis viverrini, Clonorchis sinensis thì loài O. viverrini hiện đang được nghiên cứu chuyên sâu nhất tại Đông Nam Á với mối…

Opisthorchis viverrini: Loài sán lá gan được xác định sinh ung thư biểu mô đường mật ở gan của người chưa được “nghiên cứu toàn diện” tại Việt Nam (còn nữa)

Trong khuôn khổ chuyến thăm và làm việc theo lời mời của PGS.TS. Watcharin Loilome, giám đốc Viện Nghiên cứu Ung thư đường mật của Đại học Khon Kaen, Thái…