Chào mừng bạn đến với website Viện Sốt rét-KST-CT Quy Nhơn

  DANH MỤC

  Liên kết website

  Bản đồ

  Thống kế truy cập

Đang online: 9
Hôm nay: 2
Hôm qua: 2
Tuần này: 471
7 ngày trước: 476
Tháng này: 1004
30 ngày trước: 1020

Một chế phẩm có triển vọng hỗ trợ điều trị bệnh nhân sốt xuất huyết trong tương lai

Chất Melaleuca Alternifolia Concentrate (MAC) là một loại tinh dầu thiết yếu được tách ra từ một loại cây bản địa ở châu Úc, Melaleuca alternifolia (Webb, 2000) đã được chấp thuận bởi Cục Quản lý thuốc điều trị Úc (Australian Therapeutic Goods Administration_TGA) đối với nồng độ sử dụng trên người là 25% cô đặc, cũng như chấp thuận của Cơ quan Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA‐USA) xem như thảo dược.

Giới thiệu về chế phẩm của Melaleuca Alternifolia Concentrate (MAC)

Chất Melaleuca Alternifolia Concentrate (MAC) là một loại tinh dầu thiết yếu được tách ra từ một loại cây bản địa ở châu Úc, Melaleuca alternifolia (Webb, 2000) đã được chấp thuận bởi Cục Quản lý thuốc điều trị Úc (Australian Therapeutic Goods Administration_TGA) đối với nồng độ sử dụng trên người là 25% cô đặc, cũng như chấp thuận của Cơ quan Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA‐USA) xem như thảo dược. MAC đã được báo cáo là chủ yếu chứa chất Terpinen‐4‐ol (56‐58%), gama‐terpinene (20,65%) và alphaterpinene (9,8%). Dựa trên những nghiên cứu trước đây, MAC đã được tìm thấy có chứa hoạt chất có tính chống viêm (Hart và cộng sự.., 2000; Caldefie‐Chezet và cs, 2004 và 2006), hoạt tính kháng vi sinh vật chống lại nhiều loại vi khuẩn (Papadopoulos và cs., 2006; Mondello và cs., 2006) cũng như là các hoạt tính kháng vi‐rút chống lại vi‐rút cúm gia cầm H5N1 và vi‐rút bệnh herpes simplex (Webb, 2007).

Những kết quả liên quan đến nghiên cứu chất Maleleuca Alternifolia Concentrate (MAC)

Giai đoạn nghiên cứu pha I và pha II của MAC đã được triển khai tại Indonesia trên những người tình nguyện khỏe mạnh và những bệnh nhân bị SXH. Thử nghiệm lâm sàng pha I đã chứng minh MAC an toàn trong cơ thể người (Hakim và cs., 2008). Từ thử nghiệm lâm sàng pha II của MAC đã được tìm thấy có hiệu quả trong giảm tải lượng vi‐rút và nhiệt độ cơ thể sớm và giảm tình trạng thoát huyết tương

Trong giai đoạn nghiên cứu y học II của phác đồ liều lượng MAC là 300mg, 450mg, 600mg và 900 mg đã được so sánh với nhóm điều trị không dùng MAC. Liệu pháp MAC 600mg giảm tải lượng vi‐rút và cải thiện trạng thái lâm sàng (Sốt, đau đầu, buồn nôn, nôn, đau cơ, đau khớp, đau lưng) có khả năng hơn khi so sánh với nhóm không điều trị. Tải lượng vi‐rút đã giảm một cách đáng tin cậy vào khoảng 600mg. MAC từ ngày đầu tiên cấp thuốc đến ngày cuối cùng (ngày 8) của quá trình theo dõi. Nhiệt độ giảm xuống ngày thứ 4 của việc tuyển chọn và đã giữ nguyên không sốt vào khoảng MAC 600mg. mà không có mức tối đa khi so sánh với nhóm điều trị không có MAC.

Trong thử nghiệm lâm sàng pha II của MAC với nhiều liệu trình là 300mg, 450 mg, 600 mg và 900 mg được so sánh với nhóm chứng không dùng chế phẩm MAC. Nhóm MAC liệu trình 600 mg giảm đi lượng virus và cải thiện tình trạng lâm sàng (sốt, nhức đầu, buồn nôn, nôn mửa, đau cơ, đau khớp, đau lưng) hơn so với nhóm không dùng MAC. Lương virus đã giảm đi ở liều 600 mg của MAC ngay từ ngày đầu cho thuốc đến ngày quan sát cuối cùng (ngày 8). Thân nhiệt giảm vào ngày thứ 4 và vẫn không có sốt tồn tại trên nhóm bệnh nhân dùng MAC liều600 mg không có đỉnh sốt nào so với nhóm không dùng MAC.

Những hướng dẫn sau đây của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) nhằm duy trì tiêu chuẩn nghiên cứu để chứng minh hiệu quả và tính an toàn của một loại thuốc sau khi kết thúc thành công của giai đoạn nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng pha I và pha II. Một nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng pha III mù đôi, ngẫu nhiên tại đa quốc gia được lựa chọn sắp tiến hành ở Indonesia, Bangladesh và Việt Nam. Ở đây, việc đề xuất đề cương đưa Việt Nam như là một trong những điểm nghiên cứu cho thử nghiệm lâm sàng pha III của MAC trên các bệnh nhân SXH người trưởng thành.

Tác giả: PGS.TS. Triệu Nguyên Trung, Ths.Bs. Huỳnh Hồng Quang,
Cn. Huỳnh Thị An Khang, Cn. Võ Thị Như Quỳnh, Cn. Nguyễn Thái Hoàng
Chia sẻ:

Tin cùng chuyên mục

Khởi động hợp tác quốc tế giữa Bệnh viện Đại học Grenoble Alpes (Pháp) và Viện Sốt rét‐Ký sinh trùng‐Côn trùng Quy Nhơn (Việt Nam)

Bệnh viện Đại học Grenoble Alpes (Centre Hospitalier Universitaire Grenoble Alpes, viết tắt là CHU Grenoble Alpes) là một bệnh viện có tham gia giảng dạy và đào tạo nhân lực của Pháp được…

Tổng kết 10 năm công tác hợp tác quốc tế của Viện Sốt rét ‐ Ký sinh trùng ‐ Côn trùng Quy Nhơn (2016‐2026) (tiếp theo và hết)

Trong 10 năm qua, Viện đã tích cực tổ chức và tham gia nhiều hội thảo, hội nghị, tọa đàm quốc tế và khu vực về phòng, chống sốt rét…

Tổng kết 10 năm công tác hợp tác quốc tế của Viện Sốt rét ‐ Ký sinh trùng ‐ Côn trùng Quy Nhơn (2016‐2026) (tiếp theo)

Hợp tác quốc tế được triển khai gắn chặt với định hướng chuyên môn của Viện, qua đó tạo điều kiện để thực hiện các nghiên cứu chuyên sâu về…

Tổng kết 10 năm công tác hợp tác quốc tế của Viện Sốt rét ‐ Ký sinh trùng ‐ Côn trùng Quy Nhơn (2016‐2026) (còn nữa)

Hợp tác quốc tế trong nghiên cứu khoa học là hoạt động rất quan trọng để các bên cùng nhau giải quyết các thách thức toàn cầu phức tạp, thúc…

Hội đồng chuyên gia đánh giá về chẩn đoán sốt xuất huyết Dengue

Nhằm ứng phó với tình trạng Khẩn cấp Toàn cầu về bệnh truyền nhiễm guy hiểm sốt xuất huyết Dengue giai đoạn 2024‐2025, Tổ chức Y tế Thế giới (TCYTTG)…

Hội thảo “Một Sức khỏe Tiểu vùng sông Mê Kông mở rộng” (Vòng 2)‐Tăng cường nguồn nhân lực “Một Sức khỏe” để ứng phó với các thách thức sức khỏe cộng đồng: Tập trung vào xây dựng năng lực

Hội thảo “Một Sức khỏe Tiểu vùng sông Mê Kông mở rộng” (GMS‐One Health) với chủ đề “Tăng cường nguồn nhân lực Một Sức khỏe để ứng phó với các…

Viện Sốt rét‐KST‐CT Quy Nhơn đón tiếp Đoàn công tác Đơn vị Nghiên cứu Y học Hải quân Mỹ Ấn Độ Dương‐Thái Bình Dương (NAMRU‐IP) đến thăm và làm việc

Ngày 24‐25/9/2025, đoàn chuyên gia của Đơn vị Nghiên cứu Y học Hải quân Hoa Kỳ Khu vực Ấn Độ Dương ‐ Thái Bình Dương (NAMRU‐IP)tại Singapore và Việt Nam…

Opisthorchis viverrini: Loài sán lá gan được xác định sinh ung thư biểu mô đường mật ở gan của người chưa được “nghiên cứu toàn diện” tại Việt Nam (tiếp theo và hết)

Trong số các loại sán lá gan nhỏ Opisthorchis viverrini, Clonorchis sinensis thì loài O. viverrini hiện đang được nghiên cứu chuyên sâu nhất tại Đông Nam Á với mối…

Opisthorchis viverrini: Loài sán lá gan được xác định sinh ung thư biểu mô đường mật ở gan của người chưa được “nghiên cứu toàn diện” tại Việt Nam (còn nữa)

Trong khuôn khổ chuyến thăm và làm việc theo lời mời của PGS.TS. Watcharin Loilome, giám đốc Viện Nghiên cứu Ung thư đường mật của Đại học Khon Kaen, Thái…