Chào mừng bạn đến với website Viện Sốt rét-KST-CT Quy Nhơn

  DANH MỤC

  Liên kết website

  Bản đồ

  Thống kế truy cập

Đang online: 6
Hôm nay: 8
Hôm qua: 57
Tuần này: 225
7 ngày trước: 650
Tháng này: 1128
30 ngày trước: 1140

Chế độ ăn ảnh hưởng đến huyết áp

Trong khẩu phần thức ăn hàng ngày, chế độ ăn có thể làm ảnh hưởng đến tăng huyết áp hay giảm huyết áp. Vì vậy, kiểm soát chế độ ăn hợp lý sẽ điều chỉnh được chỉ số huyết áp một cách hợp lý để chủ động phòng tránh các bệnh lý liên quan có thể xảy ra làm ảnh hưởng đến sức khỏe, kể cả tính mạng.

Trong khẩu phần thức ăn hàng ngày, chế độ ăn có thể làm ảnh hưởng đến tăng huyết áp hay giảm huyết áp. Vì vậy, kiểm soát chế độ ăn hợp lý sẽ điều chỉnh được chỉ số huyết áp một cách hợp lý để chủ động phòng tránh các bệnh lý liên quan có thể xảy ra làm ảnh hưởng đến sức khỏe, kể cả tính mạng.

Đối với thức ăn có muối natri

Một trong các nguyên nhân làm tăng huyết áp thường được nói đến là việc sử dụng lượng muối natri trong khẩu phần thức ăn hàng ngày. Muối natri được cung cấp bằng 2 nguồn chính là phần cho thêm vào thức ăn như muối, nước mắm, mì chính… phụ thuộc vào khẩu vị của từng người và phần có sẵn trong thực phẩm được cơ sở sản xuất cho thêm vào thực phẩm trong quá trình chế biến, bảo quản như các loại thực phẩm đóng hộp, hun khói, sấy khô, ướp muối… và nguồn sẵn có tự nhiên trong thực phẩm.

Tính thấm của màng tế bào đối với muối natri có thể có yếu tố di truyền, do đó có người nhạy cảm với muối, có người không nhạy cảm với muối. Hiện nay Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) khuyến cáo chế độ ăn không nên quá 6g muối mỗi ngày là giới hạn hợp lý để phòng bệnh tăng huyết áp.

Trong thực đơn ăn hàng ngày cần bớt các thức ăn nhanh, các thực phẩm chế biến sẵn vì các loại thực phẩm này thường chứa nhiều muối natri.

Rau quả các loại là thực phẩm cần thiết phòng ngừa tăng huyết áp
(ảnh internet)

Đối với thức ăn có kali

Chế độ ăn giàu chất kali có lợi cho người tăng huyết áp. Kali được phân bố rộng rãi trong thực phẩm và có thể thay đổi hàm lượng khác nhau tùy theo nhóm thực phẩm. Một khẩu phần thức ăn trung bình có khả năng cung cấp khoảng từ 2,5 đến 3g chất kali mỗi ngày. Các thức ăn có nguồn gốc thực vật như khoai củ, đậu đỗ, chuối và các loại rau quả khác đều có nhiều chất kali. Nhóm rau quả cung cấp nhiều chất kali nhất là khoai tây, su hào, bí đao, đậu đỗ, chuối và các loại rau khác. Sữa cũng chứa nhiều chất kali, tiếp đến là thịt, trứng và sản phẩm ngũ cốc.

Chế độ ăn giàu kali với khoảng 4 đến 5g chất kali mỗi ngày có thể giảm huyết áp ở những người có tiền sử gia đình tăng huyết áp.

Một số chất khác có tác dụng giảm huyết áp

Ngoài chất kali đã nêu ở trên, một số chất khác như calci, sữa và các chế phẩm từ sữa, chất xơ và tỏi cũng có tác dụng làm giảm huyết áp.

Calci trong khẩu phần thức ăn hàng ngày tăng có tác dụng ảnh hưởng làm giảm huyết áp. Tác dụng làm giảm huyết áp của chế độ ăn có nhiều chất calci có thể còn phụ thuộc vào tình trạng muối như chế độ ăn có chất calci thấp làm tăng tác dụng tăng huyết áp với chế độ ăn nhiều chất muối trên một cơ thể có nhạy cảm với muối và một khẩu phần thức ăn nhiều chất calci có tác dụng ngăn chặn gây tăng huyết áp của chế độ ăn nhiều muối đặc biệt trên những người tăng huyết áp có nhạy cảm với muối. Sử dụng thực phẩm giàu chất calci còn có tác dụng dự phòng tăng huyết áp ở phụ nữ có thai.

Sữa và các chế phẩm từ sữa là nguồn thực phẩm có chất calci khá dồi dào.

Chất xơ có nhiều trong chế độ ăn hàng ngày cũng có thể làm giảm huyết áp. Theo khuyến cáo nên ăn khoảng 20g chất xơ mỗi ngày sẽ có tác dụng tốt.

Tỏi có tác dụng làm giảm huyết áp một cách vừa phải.

cần hạn chế chất muối trong khẩu phần ăn sẽ giúp huyết áp ôn định
(ảnh chỉ mang tính minh họa)

Khuyến nghị về dinh dưỡng để phòng chống tăng huyết áp

Hàng ngày, việc thực hiện ăn uống là một biện pháp không thể thiếu để phòng chống bệnh tăng huyết áp. Một chế độ ăn hạn chế muối, giảm năng lượng và rượu bia có thể đủ để làm giảm huyết áp ở hầu hết các đối tượng có tăng huyết áp nhẹ. Ở những người có tăng huyết nặng, chế độ ăn uống nói trên cũng giúp làm giảm bớt liều lượng của thuốc hạ huyết áp cần thiết. Bên cạnh đó, chế độ ăn nếu sử dụng các loại thực phẩm giàu chất calci, kali, vitamin C; thay thế các chất béo của thịt bằng cá; ăn nhiều rau và trái cây cùng với các hoạt động thể lực sẽ có tác dụng làm giảm huyết áp, một yếu tố nguy cơ của các bệnh mạch vành ở tim.

Chế độ ăn hợp lý cũng có tác dụng dự phòng các trường hợp tăng huyết áp như:

‐ Thực hiện việc sử dụng khẩu phần thức ăn giàu kali, calci và ít muối natri như ăn nhiều rau, quả, các loại hạt, sữa gầy; hạn chế các chất béo no và thể trans, ít dùng các thức ăn chế biến sẵn.

‐ Ăn hạn chế chất muối. Người bình thường không nên sử dụng quá 6g mỗi ngày. Những người tăng huyết áp chỉ nên ăn chất muối dưới 4g mỗi ngày.

‐ Hạn chế không nên uống rượu bia khi có tăng huyết áp.

‐ Hạn chế dùng cà phê ở những người có huyết áp dao động.

‐ Thường xuyên kiểm tra cân nặng cơ thể để duy trì cân nặng thích hợp, không để tăng trọng lượng cơ thể quá nhiều có thể làm ảnh hưởng đến tăng huyết áp.

Tác giả: TTƯT.BS. Nguyễn Võ Hinh
Chia sẻ:

Tin cùng chuyên mục

Hướng dẫn từ Hiệp hội Tim mạch Mỹ (ACC/AHA) về rối loạn lipid máu: 5 cập nhật quan trọng 2026

Hướng dẫn đa hiệp hội ACC/AHA năm 2026 về quản lý rối loạn lipid máu nhấn mạnh “càng thấp càng tốt” đối với LDL‐C, đưa ra các mục tiêu cá…

Thuốc kháng H1 thế hệ mới ‐ “bilastine” chống dị ứng (Phần 1)

Viêm mũi dị ứng và mày đay là hai bệnh lý khá phổ biến và thường gặp trong cộng đồng, thường ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng cuộc sống,…

Thuốc ức chế bơm proton (PPI) trong thực hành y học hiện đại

PPIs là nhóm thuốc có khả năng ức chế tiết acid dạ dày mạnh nhất hiện nay. Các thuốc trong nhóm này hoạt động bằng cách ức chế không hồi…

Cập nhật mới của Hội lồng ngực Mỹ 2025 về điều trị và quản lý viêm phổi cộng đồng (ATS 2025: Update On community‐acquired pneumonia)

Viêm phổi mắc phải cộng đồng (Community‐Acquired Pneumonia‐CAP), một bệnh lý đang được Hội Lồng ngực Mỹ (ATS_American Thoracic Society), một tổ chức chuyên môn y khoa thuộc Hội bệnh…

Cập nhật quan điểm viêm đường tiêu hóa tăng bạch cầu ái toan (Eosinophilic gastroenterocolitis): góc nhìn hóa mô miễn dịch và tiêu hóa (tiếp theo và hết)

Viêm dạ dày tăng BCAT cũng liên quan đến với các bệnh lý khác như viêm đại tràng kích thích, bệnh mạch máu collagen, nhiễm vi khuẩn và ký sinh trùng(gồm…

Cập nhật quan điểm viêm dạ dày ruột non tăng bạch cầu ái toan (Eosinophilic gastroenterocolitis): góc nhìn hóa mô miễn dịch và tiêu hóa (Còn nữa)

Viêm dạ dày ruột non tăng bạch cầu ái toan là một rối loạn bệnh lý dạ dày ruột có tăng bạch cầu ái toan (Eosinophilic gastrointestinal disorders_EGIDs) gồm có…

Nhiễm nấm ở người từ việc nuôi thú cưng bệnh lý lâm sàng ngày càng gặp phổ biến ở kỷ nguyên hiện đại (Phần 2‐Hết)

Nguyên tắc điều trị bệnh da do nấm sợi là cần xác định và loại bỏ yếu tố thuận lợi cho nấm phát triển. Sử dụng thuốc bôi tại chỗ…

Nhiễm nấm ở người từ việc nuôi thú cưng bệnh lý lâm sàng ngày càng gặp phổ biến ở kỷ nguyên hiện đại (Phần 1)

Gần đây tại cơ sở y tế chuyển khoa miễn dịch dị ứng, rối loạn da, bệnh da liễu và ký sinh trùng tiếp nhận nhiều trường hợp bệnh đến…

BMI có phải là chỉ số dự đoán chính xác về sức khỏe?

Chỉ số khối cơ thể BMI thường là chỉ số hay công cụ dùng để đánh giá tiêu chuẩn sức khỏe ở hầu hết các cơ sở y tế. Mặc…

Mày đay và y học thường thức

Mày đay không phải là một bệnh mà là triệu chứng của một bệnh lý nào đó thể hiện ngoài da, biểuhiện bởi các triệu chứng ngứa, vệt di chuyển…