Chào mừng bạn đến với website Viện Sốt rét-KST-CT Quy Nhơn

  DANH MỤC

  Liên kết website

  Bản đồ

  Thống kế truy cập

Đang online: 5
Hôm nay: 2
Hôm qua: 2
Tuần này: 471
7 ngày trước: 476
Tháng này: 1004
30 ngày trước: 1020

Các yếu tố kinh tế, xã hội tác động đến phòng chống bệnh sốt rét của cộng đồng cư dân ở Tây Nguyên (Đak Lak ‐ Gia Lai ‐ Kon Tum).

Đaklak, Gia lai, Kon Tum KT ‐ XH phát triển chậm nhất cả nước. Khó khăn cho phát triển kinh tế hộ gia đình là thiếu vốn, ở Kon Tum: 74,7%, Đaklak: 70% và Gia lai: 62,6%, thiếu sức khỏe: 8,5%. Vùng III thiếu vốn: 74,6%, vùng I: 67,8% cao hơn vùng II, thiếu sức khỏe vùng III cao nhất: 11,7%. Cần vốn để phát triển kinh tế cao nhất Kinh: 84,7%, kế đến Bana, Mnông, Hơ lang, Êđê và thiếu sức khỏe cao nhấtlà Mnông.

1. Kinh tế ‐ xã hội và sốt rét:

Đaklak, Gia lai, Kon Tum KT ‐ XH phát triển chậm nhất cả nước. Khó khăn cho phát triển kinh tế hộ gia đình là thiếu vốn, ở Kon Tum: 74,7%, Đaklak: 70% và Gia lai: 62,6%, thiếu sức khỏe: 8,5%. Vùng III thiếu vốn: 74,6%, vùng I: 67,8% cao hơn vùng II, thiếu sức khỏe vùng III cao nhất: 11,7%. Cần vốn để phát triển kinh tế cao nhất Kinh: 84,7%, kế đến Bana, Mnông, Hơ lang, Êđê và thiếu sức khỏe cao nhấtlà Mnông.

Trình độ học vấn vào loại thấp nhất cả nước, tỷ lệ người mù chữ và cấp I chiếm phần lớn. Đặc biệt vùng III, và nhóm đồng bào dân tộc thiểu số có trình độ học vấn và hiểu biết thấp hơn rất nhiều so với vùng I. Dân nhập cư đến nhiều nhất là Đak Lak, ít nhất là Kon Tum. Đặc biệt là nhóm di cư tự do thường là người dân tộc thiểu số của các tỉnh miền núi phía Bắc, rất nghèo, thường đến định cư khu vực sát rừng, miền núi thuộc vùng sâu ‐ xa, cơ sở hạ tầng rất khó khăn, khó quản lý và quy hoạch giúp họ ổn dịnh đời sống.

Hệ thống cơ sở hạ tầng: trường học, y tế cơ sở, điện, nước, đặc biệt thiếu nhiều ở các khu vực nông thôn miền núi vùng sâu, vùng xa và vùng đồng bào dân tộc.

2. Những tác động của một số y ếu tố KT ‐ XH cơ bản đến bệnh sốt rét:

Tỷ lệ BNSR/dân số liên quan thu nhập GDP và bình quân lương thực, Kon Tum nghèo nhất có tỷ lệ sốt rét cao hơn Đak Lak và Gia Lai. Bệnh sốt rét có xu hướng giảm từ vùng III đến I. Tương tự, vùng I tỷ lệ người nhận thức đúng về bệnh sốt rét thường cao hơn vùng II, III. Người Kinh, có tỷ lệ nhận thức đúng về bệnh sốt rét cao hơn ở các nhóm dân tộc khác. Bana ở Gia lai có tỷ lệ mắc sốt rét cao nhất, còn Êđê, Xêđăng, Giẻ triêng thấp hơn.Người có trình độ học vấn càng cao thì nhận thức, thái độ và hành vi đối với bệnh sốt rét càng tăng, do đó nguy cơ mắc bệnh sốt rét của họ càng giảm.

Nhóm di cư, đặc biệt là dân di cư tự do thường có tỷ lệ người bị bệnh sốt rét cao hơn nhóm không di cư. Vì họ thường có những nhận thức và hành vi đúng về phòng chống bệnh sốt rét thấp hơn ở nhóm không di cư, nhóm di cư: Tày, Nùng và nhóm người Kinh có tỷ lệ mắc sốt rét cao.

Hệ thống y tế thôn bản và hệ thống truyền thanh đại chúng hết sức quan trọng trong việc tuyên truyền và vận động nhằm nâng cao kiến thức, hiểu biết và hành vi của người dân về phòng, chống bệnh sốt rét.

3. Đánh giá hiệu quả của dự án phòng chống sốt rét VN ‐ EC:

Đak Lak và Kon Tum, tỷ lệ người có nhận thức đúng về bệnh sốt rét thường cao hơn ở tỉnh Gia Lai. Cộng đồng hưởng lợi từ dự án PCSR VN ‐ EC, Đak Lak (94,9%), Kon Tum (90,5%) hiệu quả dự án này đã nâng cao nhận thức, hiểu biết và thay đổi hành vi phòng chống bệnh sốt rét ở các cộng đồng, làm giảm tỷ lệ mắc và chết sốt rét ở Đak Lak và Kon Tum

Tác giả: Lê Khánh Thuận, Trương Văn Có, Nguyễn Trọng Xuân, Dương Chí Thiện, Nguyễn Xuân Quang, Hồ Đắc Thoàn, Đặng Văn Phúc, Nguyễn Duy Sơn và CTV
Chia sẻ:

Tin cùng chuyên mục

Hiệu quả thiết thực của đề tài nghiên cứu khoa học tại Viện Sốt rét‐KST‐CT Quy Nhơn trong tình hình dịch bệnh COVID‐19 hiện nay

Ngày 11/01/2022, Viện Sốt rét‐KST‐CT Quy Nhơn tổ chức buổi nghiệm thu đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở năm 2021 nhằm đánh giá kết quả đạt được…

Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ năm 2012‐2014 (Chủ nhiệm đề tài: TS. Ngô Thị Hương)

Đề tài 3. Nghiên cứu phân tích phả hệ, vai trò truyền bệnh của các thành viên trong phức hợp Anopheles minimus và Anopheles dirus bằng các chỉ thỉ di…

Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Tỉnh năm 2014‐2016 (Mã số đề tài, dự án: KC‐GL‐01 (2014)‐ Chủ nhiệm đề tài: PGS.TS.Triệu Nguyên Trung)

Tên đề tài: Đánh giá mối tương quan giữa các yếu tố nguy cơ gia tăng sốt rét với tác động của biến đổi khí hậu, môi trường sinh thái…

Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ năm 2012‐2014‐Chủ nhiệm đề tài: PGS. TS. Hồ Văn Hoàng

Đề tài: Nghiên cứu diễn biến mùa truyền bệnh sốt rét dưới tác động của biến đổi khí hậuở Việt Nam và đề xuất một số khuyến nghị ‐Chủ nhiệm…

Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ năm 2012‐2014

Tên đề tài: Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ, triệu chứng lâm sàng, cận lâm sàng bệnh ấu trùng giun đũa chó ở người tại một số điểm của miền…

Nghiên cứu một số biện pháp khắc phục sốt rét gia tăng do di biến động (đi rừng, ngủ rẫy) ở Bình Tân (Bình Thuận) và Sơn Trạch (Quảng Bình)

Những năm gần đây số mắc sốt rét có xu hướng tăng cao ở một số tỉnh ven biển miền Trung, một trong những nguyên nhân là do các đối…

Đánh giá hiệu quả hoạt động của các điểm kính hiển vi trong phòng chống sốt rét tại khu vực miền Trung ‐ Tây Nguyên

Mục tiêu của nghiên cứu này là đánh giá hiệu quả hoạt động của các điểm kính hiển vi (ĐKHV) trong phòng chống sốt rét (PCSR) ở vùng sốt rét…

Kết quả nghiệm thu đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ giai đoạn 2002‐2005

Viện Sốt rét KST‐CT Quy Nhơn đã tiến hành nhiều đề tài nghiên cứu khoa học (NCKH) cấp nhà nước, cấp bộ, cơ sở và hợp tác quốc tế,…

Nghiên cứu đánh giá hiệu quả diệt vector của các loại hoá chất trong phòng chống sốt rét ở miền Trung ‐ Tây Nguyên

DDT, Icon, Deltamethrin và Permethrrin là những hóa chất đã và đang sử dụng trong chương trình PCSRQG, các hóa chất này có tác dụng diệt các vector truyền bệnh…

Đánh giá độ nhạy cảm của vector sốt rét, tác dụng tồn lưu của phun Lambdacyhalothrin và màn tẩm Permethrin, thực trạng sử dụng màn ở các cộng đồng (Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Nam).

An. dirus và An. minimus là 2 loài truyền bệnh sốt rét chính ở 3 tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị và Quảng Nam, chúng phân bố rộng đến các vùng…